THÔNG TIN NHANH‎ > ‎

Tin tức khác


Tin mới nhất

  • -Uống bia nhất bảng, làm việc chót bảng      Với 3 tỉ lít bia trong năm 2013, VN trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về tiêu thụ bia, nhưng cũng trong năm 2013 theo ...
    Được đăng 06:09, 29 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Sáng Ra đi từ “Đất Lửa” (tên tiểu thuyết đầu tay), nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã trở về cùng Đất Mẹ vào trước lễ Tình nhân (Valentine) đúng một ...
    Được đăng 19:59, 16 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Bùi Giáng: thơ phơi giữa nắng           TT - LTS: Lần đầu tiên kể từ năm 1975, một tọa đàm khoa học về thi sĩ Bùi Giáng được tổ chức, diễn ra lúc 8g hôm nay 14-9 ...
    Được đăng 17:38, 15 thg 9, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Tượng Phật Di Lặc núi Cấm đạt kỷ lục Châu Á Du lịch núi Cấm An Giang Theo Báo Thanh Niên (ngày 25.4.2013)
    Được đăng 00:15, 29 thg 4, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Ảnh TT tham quan Dalat-Tây nguyên
    Được đăng 02:13, 25 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 10. Xem nội dung khác »


-Uống bia nhất bảng, làm việc chót bảng

đăng 06:09, 29 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn

     Với 3 tỉ lít bia trong năm 2013, VN trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về tiêu thụ bia, nhưng cũng trong năm 2013 theo Tổ chức Lao động quốc tế, năng suất lao động của người VN thuộc mức thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chỉ bằng 1/15 so với Singapore.

Uống bia nhất bảng, làm việc chót bảng
VN hiện là quốc gia dẫn đầu ASEAN về tiêu thụ bia - Ảnh: Ngọc Thắng

Dù chưa có kết luận chính thức nào về mối liên hệ giữa 2 việc này nhưng nghịch lý "quán quân" về uống bia, "đội sổ" về năng suất đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết.

Quán quân... uống bia

Theo thống kê của tổ chức nghiên cứu Euromonitor, năm 2013, VN tiêu thụ 3 tỉ lít bia, tương đương giá trị 3 tỉ USD, trở thành “quán quân” uống bia ở khu vực ASEAN và thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Trong khi 10 năm trước, VN chỉ tiêu thụ 1,29 tỉ lít bia. Như vậy, chỉ sau một thập niên, tốc độ tiêu thụ bia của người Việt tăng gần 200%. Theo dự báo của Bộ Công thương đưa ra đến năm 2015, con số này sẽ tăng lên 4,5 tỉ lít bia, lượng tiêu thụ trung bình mỗi người dân cũng tăng từ mức 32 lít/năm hiện tại lên 47 lít/năm. Thậm chí, các nhà đầu tư vào bia đang kỳ vọng con số này sẽ tăng lên 60 đến 70 lít bia/người/năm.

Năm 2013 chúng ta "kiếm" được 2,95 tỉ USD tiền bán gạo nhưng chúng ta lại “tiêu béng” hết vào bia. Nếu lượng tiền dùng cho bia, rượu được đầu tư cho phát triển kinh tế chắc chắn sẽ tạo ra được giá trị gia tăng tốt hơn. Việc tiêu thụ rượu, bia quá lớn phá hủy lợi ích kinh tế khi nó trở thành tệ nạn xã hội

TS Nguyễn Minh Phong

chuyên gia kinh tế

Theo Euromonitor, VN hiện thuộc nhóm 25 quốc gia có tốc độ gia tăng nhu cầu tiêu thụ bia nhiều nhất thế giới. Ấn Độ đang tăng với tốc độ 17%/năm, Brazil tăng 16%/năm thì VN cũng đang ở tốc độ không kém cạnh là 15%/năm. Chính sự tăng trưởng “đáng nể” này đã thu hút hàng loạt nhà đầu tư tham gia vào thị trường bia, bất chấp kinh tế suy thoái. Ước tính ở VN hiện có khoảng 30 thương hiệu bia trong và ngoài nước với hơn 400 nhà máy sản xuất bia. Riêng về nhập khẩu, số liệu từ Tổng cục Hải quan cho biết, chúng ta đang nhập khẩu từ 3,6 - 4 triệu lít/năm.

Dù công suất tăng liên tục, cuộc cạnh tranh giữa các hãng bia ngày càng gay gắt nhưng lợi nhuận của ngành bia vẫn tăng mạnh mỗi năm. Theo Bộ Công thương, năm 2011, lợi nhuận từ doanh nghiệp bia đạt khoảng 7.500 tỉ đồng, năm 2012 là 8.600 tỉ đồng và đạt 10.150 tỉ đồng trong năm 2013. Cụ thể hơn, chỉ cần nhìn vào tốc độ tăng trưởng của Sabeco, đại gia hàng đầu trên thị trường bia trong 10 năm trở lại đây để thấy tốc độ “nốc” bia của người Việt khủng đến mức nào. Nếu như năm 2005, sản lượng của Sabeco chỉ 148,5 triệu lít bia các loại thì 5 năm sau, năm 2010 con số này đã lên 1,08 tỉ lít và sang năm 2013 là 1,33 tỉ lít.

Ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty vật liệu xây dựng Secoin, trong một bài viết gần đây về bia rượu và thuốc lá, cho rằng, giá bia của VN chỉ bằng 1/4 giá bia của Malaysia. Hiện VN đang đứng đầu top 5 nước có giá bia rẻ nhất thế giới: VN, Campuchia, Ukraine, Philippines và Ethiopia. Ông Kỳ cũng cho biết, các đối tác ngoại nhận xét người Việt “nhậu dữ quá”.

Năng suất làm việc bằng 1/15 thiên hạ

Trong khi tốc độ tiêu thụ bia tăng phi mã theo mỗi năm thì thu nhập bình quân của chúng ta chỉ xếp thứ 8/11 trong khu vực ASEAN, xấp xỉ 2.000 USD/năm. Đặc biệt, năng suất lao động của VN theo công bố của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hiện đang ở mức thấp so với các nước ASEAN - 6 (các nước phát triển hơn trong ASEAN) và ở vị trí chót bảng so với các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chỉ bằng 1/5 lao động Malaysia, 2/5 Thái Lan và 1/15 Singapore. Trong khi đó, các quốc gia dẫn đầu về năng suất lao động hiệu quả cũng không có tên tuổi trên bản đồ tiêu thụ bia.

Nói về vấn đề này, PGS-TS Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp (thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội), nói: “Năng suất lao động không là ngoại lệ. Bởi khi uống vào, mắt mũi kèm nhèm rồi, còn tỉnh táo đâu để làm việc nữa. Thứ nữa, việc uống bia ngay trong giờ hành chính là ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công việc, thậm chí không làm được gì, nhất là uống vào giờ ăn trưa. Ăn trưa không uống bia, 13 giờ 30 có thể vào làm việc được. Nhưng lai rai vài ba chai, 15 giờ chưa về đến cơ quan, thậm chí nghỉ luôn cả buổi chiều, làm sao năng suất không thua người ta, không tụt lại phía sau được”.

Bàn về hệ lụy từ bia rượu đối với sức khỏe cộng đồng, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế) Vũ Thị Minh Hạnh nhấn mạnh nỗ lực của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội trong phát triển kinh tế cũng như chăm sóc bảo vệ sức khỏe cộng đồng sẽ “sớm bị hòa tan cùng với bia rượu” khi mức độ tiêu thụ mặt hàng này tăng trên 12% mỗi năm. Chưa hết, theo bà Hạnh, thực trạng tăng chi tiêu vào sản phẩm bia là tình trạng đáng báo động, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của đất nước. Tháng 7 vừa qua, một thống kê của Bộ Y tế đưa ra cho thấy tỷ lệ nam giới tử vong do tai nạn giao thông có liên quan đến rượu bia là hơn 36%.

Về góc độ kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế, nhận xét: “Năm 2013 chúng ta "kiếm" được 2,95 tỉ USD tiền bán gạo nhưng chúng ta lại “tiêu béng” hết vào bia. Nếu lượng tiền dùng cho bia, rượu được đầu tư cho phát triển kinh tế chắc chắn sẽ tạo ra được giá trị gia tăng tốt hơn. Việc tiêu thụ rượu, bia quá lớn phá hủy lợi ích kinh tế khi nó trở thành tệ nạn xã hội. Theo đó, năng suất lao động khó nói đến hai chữ hiệu quả”.

Mua bia nhiều hơn xuất khẩu gạo

Trong khi người nông dân VN xuất khẩu được 6,61 triệu tấn gạo, trị giá 2,95 tỉ USD thì cả nước lại “nướng” vào bia đúng con số 3 tỉ USD. “Cày cuốc cả năm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời thì hàng triệu nhà nông Việt cũng chỉ mang về bằng số tiền chúng ta đang “nốc” bia hằng năm”, tổng giám đốc một công ty xuất khẩu nông sản tại Q.3 (TP.HCM) nhận xét.

Nguyên Nga - Mai Phương

(Theo Báo Thanh Niên)

>> Tiêu thụ bia tăng
>> Cắt giảm tiêu thụ bia, rượu là điều cần thiết
>> Việt Nam tiêu thụ bia đứng thứ 4 châu Á


-Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Sáng

đăng 19:53, 16 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 19:59, 16 thg 2, 2014 ]


Ra đi từ “Đất Lửa” (tên tiểu thuyết đầu tay), nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã trở về cùng Đất Mẹ vào trước lễ Tình nhân (Valentine) đúng một ngày.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - Ảnh: NGUYỄN Á
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - Ảnh: Nguyễn Á

 

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - Ảnh: Trần Hoàng Nhân

Với Nguyễn Quang Sáng, “tình nhân” của ông là đất nước quê hương mà ông yêu tha thiết, mà ông đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình qua hai cuộc kháng chiến, hiến dâng bằng mấy chục tác phẩm văn xuôi trải ra qua hàng mấy chục năm. Là một nhà văn bền bỉ với sự nghiệp cầm bút của mình, không ai nghĩ Nguyễn Quang Sáng lại ra đi sớm như vậy, dù ông đã ngoài 80 tuổi. Năm ngoái, khi vào Sài Gòn, tôi còn được ngồi uống rượu với ông ở một cái quán bên bờ sông Sài Gòn thuộc quận 7. Buổi chiều ở đó còn nghe được tiếng xuồng máy chạy trên sông và tiếng bìm bịp kêu nước lớn, hệt như hồi chúng tôi ở chiến trường đồng bằng Nam bộ.

Nguyễn Quang Sáng thích ngồi ở quán ven sông này, một phần, cũng vì nó gợi ông nhớ lại những kỷ niệm sông nước Nam bộ đã đồng hành cùng ông, đã sống dai dẳng và tha thiết trong ông gần như cả cuộc đời cầm bút. Nói “cầm bút” với Nguyễn Quang Sáng là chính xác, vì cho tới giờ, ông vẫn viết tay bằng bút, từng con chữ hiện dần dưới tay ông, trên trang giấy trắng. Viết một cách “truyền thống” như vậy, nhưng tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng luôn cập nhật đời sống đương đại, luôn cho thấy một khả năng quan sát tinh tường cùng những nhận xét sắc sảo của một “nhà kể chuyện đời”. Nguyễn Quang Sáng là người kể chuyện tài ba. Mỗi câu chuyện, dù bình dị, dù nhỏ bé tới đâu, qua cách kể chuyện của Nguyễn Quang Sáng đều bật sáng lên một cách sinh động, thu hút và luôn níu giữ người đọc cho tới dòng cuối cùng. Chính khả năng cấu trúc chặt chẽ một câu chuyện khi viết văn xuôi đã giúp nhà văn Nguyễn Quang Sáng thành công khi viết kịch bản phim - một thành công mà rất ít nhà văn ở Việt Nam có được khi đi vào lĩnh vực điện ảnh. Nếu bây giờ phim Cánh đồng hoang đã trở thành một tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam, thì công lao của nhà viết kịch bản Nguyễn Quang Sáng là rất lớn.

Ông là một trong số ít những nhà văn Nam bộ “rặt ri”, thuần chất, một trong nhà văn đã đưa văn xuôi Nam bộ chiếm lĩnh những đỉnh cao trong văn xuôi Việt Nam thế kỷ hai mươi. Chính chất “lưu dân” - một đặc chất của nhà văn Nam bộ thể hiện mạnh mẽ trong văn Nguyễn Quang Sáng - đã khiến tính cách những nhân vật của ông không thể trộn lẫn, nó có gì như vượt thoát khỏi những khuôn khổ, từ chối những quy ước, và kết nối với tự do.

Tính cách ngoài đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng là như vậy. Và đó cũng là điểm thu hút những nhà văn nhà thơ thế hệ sau như chúng tôi chơi với ông một cách thoải mái nhất, bạn bè nhất. Còn nhớ, cách đây 7, 8 năm gì đó, Nguyễn Quang Sáng được một hãng phim tài liệu mời về Quảng Ngãi để ông trở thành “đồng nhân vật chính” trong một câu chuyện hy hữu và cảm động. Đó là câu chuyện về bức thư của đại tá Trần Ngọc Giao quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi gửi cho vợ là chị Cúc, trong khi ông Giao đang ở chiến khu miền tây Quảng Nam vào năm 1967, còn vợ ông đang ở quê nhà Đức Phổ. Bức thư này, lẽ ra tới tay bà Cúc chỉ trong 7 ngày, đã phải lưu lạc trên đất Mỹ đúng 22 năm và 6 tháng. Cho tới khi nhà văn Nguyễn Quang Sáng, trong một lần sang thăm nước Mỹ và tới làm việc tại Trường đại học Massachusetts (MIT), ông đã phát hiện bức thư kỳ lạ này trong thư viện của Trường MIT.

Bức thư đã được nhà văn Nguyễn Quang Sáng mang về nước, được ông đăng tải trên Báo Công an TP.HCM, và cuối cùng, nó đã tìm về được với vợ chồng đại tá Giao và bà Cúc. Nếu không có một khả năng đặc biệt “hút” chuyện đời, hút chi tiết, một tấm lòng biết quan tâm tới số phận người khác của một nhà văn, sẽ không có câu chuyện này, hoặc câu chuyện sẽ đi về một hướng khác. Nguyễn Quang Sáng là như vậy, trông cứ như chơi chơi, nhưng không một chi tiết nào lọt khỏi mắt ông. Đó là năng lực cảm nhận đặc biệt của một nhà văn. Có thể nói, Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn xuôi bẩm sinh. Trong mỗi câu chuyện đời giản dị mà Nguyễn Quang Sáng kể, ta như nghe được những âm thanh quen thuộc và lạ lùng của đời sống, ta như thấy được những cảnh vật quen thuộc mà sao ám ảnh. Đó là cuộc sống. Và nhiều khi, văn xuôi, văn học cứ giản dị như vậy.

Xin vĩnh biệt ông, “người kể chuyện tài ba” của văn xuôi Việt Nam.      

Nguyễn Quang Sáng sinh ngày 12.1.1932 tại xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới (An Giang) trong một gia đình làm nghề thợ bạc (sau này ông viết tác phẩm Dòng sông thơ ấu như là một tự truyện). 14 tuổi, gia nhập bộ đội làm liên lạc. Sau đó theo học Trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, ra trường về công tác tại Phòng Chính trị - Bộ Tư lệnh Phân khu miền Tây Nam Bộ. Ông tập kết ra Bắc (1954) và bắt đầu viết văn từ năm 1957. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 3), Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 4), Tổng thư ký Hội Nhà văn

TP.HCM trước khi nghỉ hưu vào năm 2001.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi và kịch bản phim nổi tiếng, được nhiều giải thưởng lớn ở trong nước và quốc tế.

Tác phẩm tiêu biểu: Đất lửa (tiểu thuyết, 1963), Chiếc lược ngà (truyện ngắn, 1966),Bông cẩm thạch (truyện ngắn, 1969), Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985), Con mèo của Foujita (tập truyện ngắn, 1991), Mùa gió chướng (1978), Cánh đồng hoang(1978 - 1979), Thời thơ ấu (1995), Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt.

Giải thưởng: Ông Năm Hạng, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Báo Thống Nhất (1959); Tư Quắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội (1959); Dòng sông thơ ấu, giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985); Con mèo của Fujita, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1994); Cánh đồng hoang (kịch bản phim), bộ phim được tặng Huy chương vàng Liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng Liên hoan phim Moskva (1981); Mùa gió chướng(kịch bản phim) được tặng Huy chương bạc Liên hoan phim toàn quốc (Hà Nội 1980).

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng từ trần lúc 16 giờ 15 ngày 13.2.2014. Lễ viếng bắt đầu lúc 10 giờ ngày 14.2.2014 tại 25 Lê Quý Đôn, Q.3, TP.HCM; lễ truy điệu lúc 13 giờ và động quan lúc 13 giờ 30 ngày 16.2.2014, hỏa táng tại Nghĩa trang Đa Phước (H.Bình Chánh, TP.HCM).

H.Đ.N

Thanh Thảo

>> Nhà văn Nguyễn Quang Sáng qua đời
>> Nhà văn Nguyễn Đình Tú có niềm vui lớn
>> Nhà văn Nguyễn Trí giao lưu với độc giả TP.HCM
>> Giao lưu với nhà văn Nguyễn Đông Thức

>> Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp 36 hội viên mới 

Nguồn: Báo Thanh Niên

-Bùi Giáng: thơ phơi giữa nắng

đăng 03:21, 14 thg 9, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 17:38, 15 thg 9, 2013 ]

          TT - LTS: Lần đầu tiên kể từ năm 1975, một tọa đàm khoa học về thi sĩ Bùi Giáng được tổ chức, diễn ra lúc 8g hôm nay 14-9 tại Trường đại học KHXH&NV TP.HCM. Tưởng nhớ Bùi Giáng nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của ông, Tuổi Trẻ trích giới thiệu với bạn đọc tham luận của GS.TS Huỳnh Như Phương. 

Thi sĩ Bùi Giáng - Ảnh: Đào Trung Phụng

Người và thơ Bùi Giáng là sự kết hợp giữa đất đai nguyên sơ, hoang dã và nhịp đời phố thị. Tuổi thơ ông trải qua một vùng thiên nhiên hào phóng ruộng đồng, non nước, cỏ cây dọc sông Thu Bồn, dưới chân núi Cà Tang.

Thơ Bùi Giáng hóa kiếp và cho đầu thai để tái sinh cả những cánh bướm, cánh chuồn chuồn, con kiến, con vi trùng, sâu bọ cùng hoa hoang cỏ dại qua ngôn ngữ hiện đại.

Ông cũng sớm nhập vào cuộc sống đô thị, bắt đầu từ Hội An, Huế, rồi Sài Gòn: Anh đi về đô hội/ Ngó phố thị mơ màng. Bùi Giáng như một cái cây bị bứng khỏi phù sa Thu Bồn, vất giữa đất Sài Gòn, tưởng thung thổ lạ lẫm mà vẫn hút được dưỡng chất phồn hoa để tồn tại.

Ông vừa lạc lõng giữa đô thành lại vừa muốn là một tế bào - tuy là tế bào dị thể - của nó. Thơ ông không dửng dưng với “những chiều hôm phố thị”, “những đèn khuya phố thị”. Có lúc ông tự trách mình: Bây giờ tôi đã quên xưa/ Sài Gòn cám dỗ tôi chưa chịu về.

Ðiều kỳ diệu là Bùi Giáng ngao du sơn thủy mà vẫn như trụ chân một chỗ. Sau 34 năm ông mới trở lại quê nhà, nhưng thật ra ông đã có bao chuyến về tâm thức, đúng hơn, chân ông đi xa mà tâm ông còn ở lại: Hỏi rằng: người ở quê đâu?/ Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà.

Trí giả và hiền giả

Trong thế giới sáng tạo của Bùi Giáng, gắn liền với kết hợp Quê - Phố là kết hợp giữa cổ xưa và hiện đại, Ðông phương và Tây phương. Từ một làng quê xứ Quảng, giã từ bầy dê từng được ông choàng hoa và đặt tên, Bùi Giáng và những trang từ điển của ông mở lối lên thành phố và đi ra nhân loại.

Rồi ra Trung Niên Thi Sĩ không chỉ thân thiết với Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Ðà...; mà còn làm quen với những tâm hồn xứ lạ của Martin Heidegger, Saint-Exupéry, Gérard de Nerval, André Gide, Albert Camus... Ông chơi với cái cổ điển nhất cũng hết mình như chơi với cái tân kỳ nhất.

Ông yêu Thúy Vân trong vẻ đẹp cổ điển nhưng cũng tụng ca Thúy Kiều trên nền nhạc hiện sinh. Nhưng dù là truyền thống hay cách tân, Bùi Giáng vẫn hướng về những giá trị vĩnh cửu. Với ông, cái tĩnh tại uy nghi trường tồn như núi Ngự muôn đời bên bờ sông Hương là đẹp, đồng thời cái biến dịch muôn sắc huy hoàng cũng là đẹp, miễn là nó được vĩnh cửu hóa bằng nghệ thuật.

Nếu làm một thống kê từ vựng trong thơ Bùi Giáng, sẽ thấy bảng pha màu ngôn ngữ của ông đa dạng biết bao: những từ ngữ cổ kính, nghiêm trang đan kết với những từ ngữ tân thời, nghịch ngợm.

Ðể dùng cách nói thời thượng hiện nay, ông nhà quê Bùi Giáng là người “mở cửa”, “hội nhập” sớm hơn ai hết. Việc ông giỏi chữ Hán, tiếng Pháp thì không khó hiểu.

Nhưng chỉ mười năm ở Sài Gòn, không qua trường lớp nào, mà ông thông thạo tiếng Anh, có thể đọc Shakespeare trong nguyên tác, và am hiểu tiếng Ðức một cách chuẩn xác, sâu sắc, khi đọc, dịch, trích dẫn Friedrich Hölderlin, Martin Heidegger, như sự xác nhận qua kiểm chứng trong thực tế của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, thì quả là một năng lực ngôn ngữ thâm hậu.

Một đối cực khác được kết hợp trong tác phẩm và con người Bùi Giáng là sách vở, nhà trường trang nghiêm với cuộc đời nắng gió, bụi bặm, xô bồ.

Ðó cũng là kết hợp giữa quy cách và phá cách. Xuất thân Bùi Giáng là nhà giáo, ông viết những lời trân trọng về các thầy giáo cũ của mình.

Ông vào trường thi, thi rớt, phải thi lại để có tấm bằng. Nhưng ông cũng sẵn sàng bỏ trường mà đi khi thất vọng về nó. Khi viết sách giáo khoa, ông viết mạch lạc, khúc chiết. Khi sáng tác, viết khảo luận và dịch thuật, ông để dòng ý thức của mình lôi ngòi bút đi miên man bất tận.

Sách vở giúp Bùi Giáng trở thành trí giả; cuộc đời và số phận biến ông thành hiền giả. Người trí giả phải chịu lép vế trước người hiền giả trong ông. Người và văn ông không để cho những chuẩn mực câu thúc, ý văn ông tràn ra ngoài những ranh giới của lý trí.

Tư tưởng ông đi theo đường dây riêng biệt của nó, từ Nerval đến Shakespeare, từ Shakespeare đến Nguyễn Du, từ Nguyễn Du đến Gide, rồi lại từ Gide đến Saint-Exupéry... Qua cái bề ngoài phi logic, văn bản của ông thách đố người đọc đi tìm sự mạch lạc nội tại của nó.

“Người nghịch chữ”

Về mặt tâm lý sáng tạo và chức năng biểu hiện của văn bản, tác phẩm Bùi Giáng là sự pha trộn, nhập nhòa giữa thực và mộng, giữa tỉnh và mê. Thực và mộng, tỉnh và mê không có ranh giới rõ ràng mà thực hòa trong mộng, tỉnh hòa trong mê và ngược lại. Có những trang thơ, trang văn Bùi Giáng viết như lên đồng, như viết tự động, viết trong giấc thụy du.

Theo lời kể của người thân, bệnh án Bùi Giáng có ghi ông mắc bệnh “tâm thần phân liệt dạng sáng tạo chữ”. Ðiên là thoát khỏi thế giới thực tại để đi vào một thế giới huyễn ảo của tâm hồn. Nói cách khác, điên là lìa xa chuẩn mực của người, không còn bị gò bó, vướng bận.

Từ khi được/ bị xem là điên, Bùi Giáng thong dong đi tiếp con đường của mình, không phải chiều lụy gia đình, xã hội; không ai và không điều gì có thể níu kéo, làm phiền ông nữa.

Ông có thể nhập thân vào thi giới của mình, một thi giới mang ít nhiều ảnh tượng của hiện thực nhưng lại do chính ông tái tạo và chế biến. Có thể nói ông là đấng toàn năng, là hoàng đế trong thế giới của riêng ông.

Lao động nghệ thuật của Bùi Giáng là sự tương tác giữa nghĩ, viết và chơi. Có lẽ ông không phải là “phu chữ”, như cách nói của Lê Ðạt, mà là “người nghịch chữ”.

Ngay trong khi nghĩ, ông đã nghịch ngợm những từ ngữ và khi viết ra thì thực sự là ông bày trò chơi trên trang giấy. Bao vấn đề suy tư triết học, tư tưởng văn học hóc búa, rối rắm, ông diễn đạt tuy rườm rà mà đọc vẫn thấy vui, nhiều khi ta chưa hiểu hết ý mà không thấy mệt óc.

Ông là bậc kế tục thượng thừa những trò chơi chữ, giễu nhại... của văn hóa dân gian, của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tú Quỳ... và khai thác một cách mạnh mẽ, cuồng nhiệt nhất. Ít thấy trong văn Bùi Giáng vẻ nghiêm nghị, cau có của người tin rằng mình đang nói những điều quan trọng hay đang phát ngôn cho chân lý.

Có thể nói Bùi Giáng là thứ quả mà cây văn chương chỉ kết được một lần. Bùi Giáng phơi mình giữa nắng gió cuộc đời, rong chơi bất tận giữa đám đông mà vẫn là bí ẩn trước mắt thiên hạ, thách thức mọi suy đoán, lý giải. Ai ở Sài Gòn những năm 70, 80, 90 thế kỷ trước mà không một lần gặp Trung Niên Thi Sĩ.

Trên những con đường quanh chợ Trương Minh Giảng. Trước cổng trường Ðại học Vạn Hạnh. Trong sân chùa Già Lam. Giữa các ngõ hẻm quanh co của xóm Gà Gia Ðịnh. Tôi có bốn năm là hàng xóm của ông ở xóm Gà.

Một buổi trưa nắng gắt, tôi chạy xe về hẻm 482 Lê Quang Ðịnh, thấy ông nằm như thiu ngủ trên một đống cát nhà ai đang xây, bóng cây không che hết gương mặt teo tóp đọng nắng của ông. Vài tờ giấy viết dở vương vãi bên cạnh.

 Tôi dừng xe lại, chưa biết làm gì: nhặt giúp ông những tờ bản thảo sắp bay đi hay đánh thức gọi ông vô nhà. Giữa lúc tôi còn phân vân, thì Bùi Giáng, mắt vẫn nhắm nghiền, nhưng linh cảm có người bên cạnh, đưa bàn tay lên xua qua xua lại, ngầm bảo rằng: hãy đi chơi chỗ khác đi, đừng quấy rầy ông, hãy để ông yên với cơn mê của ông, thế giới của ông.

Chúng ta nói nhiều, viết nhiều về Bùi Giáng, nhưng có lẽ vẫn là người xa lạ đối với ông. Sau 15 năm, chúng ta thêm một lần đón nhận Bùi Giáng, đón ông về lại với không gian văn hóa này, thậm chí có thể nói một cách nào đó là chuộc lỗi với ông, bởi có lần ta đã lạnh nhạt, nếu không nói là xua đuổi ông.

Thử tưởng tượng một hôm nào đó Bùi Giáng tinh anh nghe nói có tọa đàm về ông ở trường đại học. Chắc ông sẽ lò dò đến đấy, leo lên cầu thang, đứng ngoài cửa ngó vào, nghe lấy đôi câu, rồi hấp háy đôi mắt dưới cặp kính dày cộp mà lẩm bẩm: “Các cháu cứ ở đó mà tọa đàm đi, ông già Bùi rong chơi tiếp đây!”.

Dẫu có như thế, chúng ta cũng đừng phật ý. Ta hãy đáp lại ông bằng ngôn ngữ của chính ông: “Vui thôi mà, thưa Trung Niên Thi Sĩ”.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Thiên tài không định nghĩa được

Bùi Giáng thi sĩ là hiện tượng lạ của nền thơ Việt Nam hậu bán thế kỷ 20 bởi sự tích hợp nghệ thuật kỳ bí song hành với cuộc đời kỳ dị, được công chúng yêu thơ mến mộ, truyền tụng và thêu dệt như những giai thoại, đến một ngưỡng nào đó, được xem như huyền thoại.

Nghiên cứu về thơ Bùi Giáng, ngày càng có nhiều công trình công phu và thành tựu ra mắt bạn đọc. Nhưng với một cuộc đời đa dạng và một tài năng thơ đa diện và đa chất như ông, thì không phải mọi kết luận đều đã thống nhất và bình ổn. Vì vậy, sự vẫy gọi từ thế giới thi ca của Bùi Giáng vẫn là khả tính cho những ai quan tâm và muốn đi tìm bản thể cuộc đời và bản mệnh nghệ thuật của thi sĩ tài năng dị biệt này, đúng như nhà văn Sơn Nam đã tâm sự: “Viết đôi lời về Bùi Giáng không bằng đọc về Bùi Giáng. Ðọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thật vui mà thật khó vậy. Ông thuộc vào loại thiên tài không định nghĩa được, là một bí ẩn toàn diện trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái nửa không nửa có, nửa hư nửa thực”.

Những nghịch lý trong sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng đã làm thành tổng hòa của sự hội tụ chứ không phải là sự phân hóa thi pháp thơ. Nhưng cũng vì vậy mà trong cái bông đùa, cà rỡn có sự thăng hoa của đau xót miên trường; trong cái hồn nhiên có sự uyên uẩn, nhức nhối của trí tuệ; trong điên loạn, cuồng say có sự mộng mơ và mê đắm của cõi tình. Tất cả những nghịch lý trên chính là tâm thức hiện sinh của Bùi Giáng trên từng chặng hành trình sống và hành trình thơ.

Trích tham luận Bản mệnh thơ Bùi Giáng của PGS.TS Hồ Thế Hà

 

Thế giới có một không hai

Đọc Bùi Giáng như thể là đi lạc vào một thế giới hỗn độn, chập chờn. Thiên la địa võng của ngôn từ tuôn ra từng trận từng cơn, trùng trùng điệp điệp.

Câu thơ “Ngữ ngôn cuồng dại chập chờn” của chính Bùi Giáng trong Ngày tháng ngao du có thể dùng để miêu tả thế giới Bùi Giáng - đó là thế giới của người thật dắt tay người ảo. Các nhân danh địa danh nửa có nửa bịa. Các trích dẫn chương cú hư hư thực thực. Những đối thoại tưởng tượng (với Nguyễn Du, Nietzsche, Trang Tử, Simone Weil, với các “mẫu thân”, với chính mình, với cả châu chấu, chuồn chuồn) thì quá ư tiếu ngạo, trộn lẫn mọi thứ có thể và không thể...

Bùi Giáng tung ngọc vào bùn, chẳng cần quan tâm thị phi, khinh trọng.

Ông trộn nhã và tục trong nói lái, pha điên và tỉnh trong triết lý, lẫn giả và chân trong trò chơi văn bản, chen hay và dở những câu thơ.

Thế giới đó, dẫu sao đi nữa, là có một không hai.

Trích tham luận Bùi Giáng “chơi” của nhà văn Nhật Chiêu


Báo Tuổi Trẻ


Bùi Giáng và bài thơ 'phù thủy'

14/09/2013 11:00

Tọa đàm khoa học đầu tiên về thi sĩ Bùi Giáng khai mạc tại Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM vào 8 giờ 30 sáng nay 14.9. 

 Bùi Giáng và bài thơ
Thi sĩ Bùi Giáng - Ảnh: Tư liệu của Thanh Hoài

Gửi đến tọa đàm có bài viết của Đắc Phúc - tác giả đã phổ nhạc một số bài thơ của Bùi Giáng, trong đó có bài Người con gái mặc quần mà theo Đắc Phúc đã được viết bằng ngôn ngữ phù thủy, ngữ từ rụng lả tả hai ba bốn lần, là một bài thơ rất hay trong tập Rong rêu, tuy vậy nếu đọc kỹ chúng ta sẽ thấy thiếu và đúng là thiếu thật vì cuối cùng như bị bỏ lửng, tựa như một người con gái đỏng đảnh, chỉ mặc áo mà không chịu mặc… quần!

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết khi tập Rong rêu sắp in lúc đó Bùi Giáng còn sống, người cháu rể của Bùi Giáng là anh Thanh Hoài chuẩn bị bản thảo để xin giấy phép đã bàn với ông nên tạm thời “cất” phần cuối của bài thơ đó đi để việc kiểm duyệt được nhanh chóng. Nên in ra, chỉ có phần đầu của bài thơ, như sau: “Người con gái hôm nay mặc quần đỏ/Vì hôm qua đã mặc quần đen/Đen và đỏ là hai màu rồi đó/Cũng như đời đường hai nẻo xuống lên/Người con gái hôm nay mặc quần trắng/Vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng/Hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn/Như núi rừng đều rất mực chênh vênh/Người con gái hôm nay mặc quần tím/Vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng/Vàng và tím là hai màu mím miệng/Mím môi cười và chúm chím nhe răng/Người con gái hôm nay mặc quần rách/Vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành/Lành và rách đều vô cùng trong sạch/Bởi vì là lành rách cũng long lanh”.

 Bùi Giáng và bài thơ
Bốn câu thơ Bùi Giáng “tiên tri” về cái chết của mình lần đầu tiên được giới thiệu tại tọa đàm - Ảnh: G.H


Nay ở hành lang của tọa đàm, Đắc Phúc và Thanh Hoài cho biết về đoạn cuối của bài thơ trên: “Người con gái hôm nay xé toạc cái mảnh quần/Thành ra một nữ nhi không quần áo/Tất nhiên là tuyệt đối gái ở truồng/Truồng như nhộng và truồng như gái gái/Khắp năm châu bốn biển ngọn nguồn/Trần trụi khắp tân châu và cổ tái/Và bỗng nhiên - thập thành thành thục nữ thiên đường”. Và Đắc Phúc đã phổ nhạc với tựa Thục nữ thiên đường. Có điều đáng nói, bài thơ không chấm dứt ở đó mà trong di cảo Bùi Giáng còn có thêm một bài ngắn dường như để nối theo ý thơ của bài trên với tựa Gái không mặc quần (chưa phổ biến), được Đắc Phúc và Thanh Hoài đưa ra: “Người con gái hôm nay không mặc quần nữa/Vì có lẽ hôm qua đã mặc quần rồi/Chẳng lẽ suốt đời mặc quần mãi/Nên bây giờ là chấm dứt chia phôi/Thế nào cũng thế mà thôi”.

Đó là chuyện người con gái “không mặc quần” chúng tôi nghe kể chiều hôm qua 13.9. Đáng nói là, cũng chiều qua, chúng tôi thấy bên ngoài phòng tọa đàm của Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM có một khuôn hình phóng to 4 câu thơ của Bùi Giáng trước khi mất với tựa Ông chào các con, nguyên văn: “Ông từ viễn mộng tương lai/Về trong hiện tại ngàn mai giậy giàng/Mậu Dần mật thể thênh thang/Ông về chín suối đá vàng chào con”.

Dưới bài thơ có chữ ký của Bùi Giáng kèm theo mấy chữ “trước khi lìa đời” do ông viết. Đây là lần đầu tiên 4 câu thơ ấy được phóng to để trưng bày (tại tọa đàm), cho thấy Bùi Giáng đã “tiên tri” về cái chết của mình vào năm Mậu Dần 1998. Đã 15 năm qua, người yêu thơ Bùi Giáng vẫn nhớ nhiều câu mượt mà lai láng và vui vẻ của ông như hai câu: “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/Đi lên đi xuống đã đời du côn”. Nay “cuộc đi” ấy đã dừng lại từ lâu, nhưng tiếng thơ của ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình vào lòng người. Vì thế, đã có thêm những phân tích khoa học về ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng, như Bùi Thanh Tường với tham luận Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt của Bùi Giáng trong tọa đàm này.

Cũng tại tọa đàm, ông Bùi Dương Thạch, đại diện Bùi tộc Vĩnh Trinh (Quảng Nam), cùng nghệ sĩ Kim Cương trao tặng quà cho các tác giả có công trình nghiên cứu về Bùi Giáng gần đây, chuẩn bị tư liệu và thư pháp về Bùi Giáng để trưng bày, trong đó có một số bài viết trước đây của các nhà nghiên cứu phê bình uy tín trong và ngoài nước như Đặng Tiến với nhận xét: “Tác phẩm và cuộc đời Bùi Giáng là niềm thủy chung trước sau như một với một Màu Hoa Trên Ngàn: ông khởi đi từ đây và trở về lại đấy”. Hoặc như Huỳnh Hữu Ủy đánh giá: “Bùi Giáng có một sức đọc và viết vô cùng kinh khủng. Viết liên tu bất tận, ngưng viết thì đọc, ngưng đọc thì viết. Dịch sách Tây, sách Tàu, Đức ngữ, Pháp ngữ. Cái lạ lùng vô cùng quý báu mà Bùi Giáng mang lại cho chúng ta chính là  sự uyên bác, tài hoa, thâm trầm, bí ẩn của ông, tất cả đều nhờ nhào biến một cách vô cùng tự nhiên rồi hiện ra trong một vẻ giản dị tài tình của một tâm hồn và ngôn ngữ Việt”. Hoặc Bùi Vĩnh Phúc: “Nét tài hoa ẩn mật mở phơi hào hứng của ông còn được thể hiện rất rõ trong dịch phẩm mà ông đã để lại cho đời”, Đỗ Lai Thúy thì: “Bùi Giáng, tôi nghĩ là một thi sĩ - triết gia, một nhà thơ đồng thời là một nhà triết học. Thi sĩ - triết gia, khác với triết gia - thi sĩ, vì tồn tại trước hết với tư cách nhà thơ, sau đó mới đến nhà triết học”. Và Bùi Giáng luôn luôn nhắc nhở “nơi ông là những bóng vang ai khác” nghĩa là ông đã rời khỏi cái “ngã” chật hẹp (Thanh Tâm Tuyền) để trở thành một “nhà thơ của ngày tháng ngao du” (Cung Tích Biền) và để “rong chơi một đời” (Mai Thảo), lên đường với “đôi mắt lạc thần” (Thanh Thảo) phóng những tia nhìn yêu thương và từ bi vào tháng ngày hữu hạn trong “cõi người ta” (Ý Nhi)…

Giao Hưởng

>> Giỗ lần thứ 8 thi sĩ Bùi Giáng
>> Người vợ của Bùi Giáng
>> Đoản văn của Bùi Giáng
>> Tọa đàm thơ Bùi Giáng
>> Tối nay, ông Bùi Giáng xuất hiện!
>> Bùi Giáng “nhập” vào nhạc Trần Quế Sơn
>> Bùi Giáng với Hoàng tử bé
>> Ra mắt di cảo thơ của Bùi Giáng
>> Nhạc sĩ Trần Quế Sơn phổ thơ Bùi Giáng

Báo Thanh Niên



-Tượng Phật Di Lặc núi Cấm đạt kỷ lục Châu Á

đăng 22:39, 28 thg 4, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 00:15, 29 thg 4, 2013 ]





Theo Báo Thanh Niên (ngày 25.4.2013)

-Ảnh TT tham quan Dalat-Tây nguyên

đăng 02:06, 25 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 02:13, 25 thg 12, 2012 ]



-Sự tích Núi Sam

đăng 01:54, 13 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn

Ngữ văn địa phương An Giang - Tài liệu tham khảo (Xem)

-Đăng ký xe chính phủ

đăng 18:05, 11 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn


Tạo điều kiện đăng ký xe chính phủ đến ngày 30/6/2013 (Xem)

-Về học bổng Vinamilk

đăng 01:52, 6 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 02:30, 20 thg 12, 2012 ]

- Đã có giấy khen và tiền học bổng Vinamilk, các Phòng GDĐT liên hệ Phòng GDTH Sở để nhận giấy khen và tiền học bổng.
- Các đơn vị đã nhận: PGDĐT LX(1), CM(2), AP(2), TS(1), CT(2), CP(2), TC(1), TB(2), CĐ(1), TT(2)
- Danh sách học sinh nhận học bổng:


 
 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                                      Danh sách học sinh Tiểu học được nhận học bổng
               "VINAMILK ươm mầm tại năng trẻ Việt Nam" năm học 2011-2012
                         (Kèm theo Công văn số  2911/BGDĐT-GDTH ngày 16 tháng 5 năm 2012 của Bộ GD&ĐT)

Tỉnh An Giang
Danh sách 18 học sinh nhận học bổng mỗi suất 1 triệu đồng.

STT Họ và Tên Nữ NS Lớp Trường tiểu học Ký nhận (ghi rõ họ, tên)
1 Dương Thị Hận x 2004 2B Trần Quốc Toản - LXNguyễn Thị Hường,PGDĐT
2 Lê Thị Ngọc Trâm x 2001 5B C Vĩnh Hanh - CT Cao Hoài Phúc,PGDDT
3 Phan Đức Trí   2001 5D A An Châu - CT Cao Hoài Phúc,PGDDT
4 Từ Thị Lan Tường x 2001 5A C Bình Phú - CP Ngô Thành Nhơn,PGDĐT
5 Lê Thị Thúy An x 2005 1B C Ô Long Vĩ - CP Ngô Thành Nhơn,PGDĐT
6 Phạm Quang Minh Hiên x 2001 5A Trưng Vương - CĐ Phạm Thanh Cường 
7 Đinh Văn Nam   2003 3C A Khánh An - AP Ngô Long Kiến,PGDĐT 
8 Hồ Sĩ Quý   2001 5B A Vĩnh Lộc - AP Ngô Long Kiến,PGDĐT
9 Đặng Thị Hồng Nhiên x 2001 5A E Châu Phong - TC Nguyễn Trương Phúc,  PGDĐT 
10 Trương Tấn Phúc   2001 5A A Phú Mỹ - PT Trần Văn Â, PGDĐT
11 Trần Phú Quý   2002 4A B Hòa Lạc - PT Trần Văn Â, PGDĐT
12 Tôn Minh Thư x 2001 5A A Mỹ Luông - CM Võ Thị Cẩm Vân,PGDĐT
13 Nguyễn Trường Hải Đăng x 2001 5A B Long Giang - CM Võ Thị Cẩm Vân,PGDĐT
14 Thạch Thị Phước Duyên x 2002 4C B Tri Tôn - TT Ngô Kim Vy,PGDĐT
15 Chau Lông Bun Na   2005 1C A Núi Tô - TT Ngô Kim Vy,PGDĐT
16 Trần Thị Như Ý x 2001 5B Núi Voi - TBDương T.Thùy Hương 
17 Nguyễn Thúy Nhi x 2001 5A A Chi Lăng - TB Dương T.Thùy Hương,PGD
18 Lê Gia Hân x 2001 5A B Vĩnh Khánh - TS Thái Thị Anh Thư,PGDDT


Thành tích:

STT Họ và Tên Lớp Tóm tắt thành tích

1 Dương Thị Hận 2B HSG 2 năm liền, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
2 Lê Thị Ngọc Trâm 5B HSG 5 năm liền, giải nhì HS giỏi cấp tỉnh, gia đình nghèo.
3 Phan Đức Trí 5D HSG 5 năm liền, giải nhì HS giỏi cấp tỉnh, giải khuyến khích Tin học trẻ.
4 Từ Thị Lan Tường 5A Đạt giải khuyến khích Học sinh giỏi cấp tỉnh, gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn.
5 Lê Thị Thúy An 1B Học sinh giỏi, gia đình nghèo có hoàn cảnh khó khăn.
6 Phạm Quang Minh Hiên 5A HSG cấp tỉnh, giải nhất Olympic tiếng Anh cấp tỉnh, giải ba Tin học trẻ.
7 Đinh Văn Nam 3C Gia đình nghèo học giỏi, giải nhất Hội KPĐ khu vực Cần Thơ 2011-2012.
8 Hồ Sĩ Quý 5B Gia đình khó khăn học giỏi, giải nhất Hội KPĐ khu vực Cần Thơ 2011-2013.
9 Đặng Thị Hồng Nhiên 5A Giải nhì HSG cấp tỉnh, gia đình nghèo.
10 Trương Tấn Phúc 5A Giải nhì HSG cấp tỉnh, giải nhất Olympic tiếng Anh cấp tỉnh
11 Trần Phú Quý 4A HS xuất sắc toàn trường, giải ba Hội thi "Chăm sóc răng miệng" cấp tỉnh.
12 Tôn Minh Thư 5A HSG 5 năm liền, giải nhất HS giỏi cấp tỉnh, giải A Hội thi viết chữ đẹp cấp huyện.
13 Nguyễn Trường Hải Đăng 5A Giải nhất HS giỏi cấp tỉnh, giải A Hội thi viết chữ đẹp cấp huyện.
14 Thạch Thị Phước Duyên 4C HS giỏi, gia đình nghèo khó khăn.
15 Chau Lông Bun Na 1C HS giỏi, hiện đang sống với bà nội, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.
16 Trần Thị Như Ý 5B Đạt giải nhất học sinh giỏi cấp tỉnh.
17 Nguyễn Thúy Nhi 5A Học sinh giỏi cấp tỉnh, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
18 Lê Gia Hân 5A Đạt giải ba học sinh giỏi cấp tỉnh, giải A Hội thi viết chữ đẹp cấp huyện.



-Chuyên đề TBM tiếng Khmer

đăng 00:21, 5 thg 12, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 00:22, 5 thg 12, 2012 ]

Chuyên đề TBM tiếng Khmer huyện Tri Tôn ngày 07/12/2012

- Kế hoạch tổ chức (Xem)
- Quyết định phân công (Xem)

-Thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng mới nộp thuế

đăng 02:50, 30 thg 11, 2012 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 18:27, 2 thg 12, 2012 ]


Với mức thu nhập 15 triệu đồng/tháng, một người độc thân phải nộp thuế TNCN như sau:

* Theo quy định hiện hành: 15 triệu đồng - 4 triệu đồng (giảm trừ gia cảnh) = 11 triệu đồng. Theo biểu thuế lũy tiến từng phần: 5 triệu đầu tiên x 5% = 250.000 đồng. 5 triệu tiếp theo x 10% = 500.000 đồng. 1 triệu tiếp theo x 15% = 150.000 đồng. Tổng cộng số thuế TNCN phải nộp: 900.000 đồng.

* Từ 1-7-2013, khi mức giảm trừ gia cảnh tăng lên 9 triệu đồng/tháng: 15 triệu đồng - 9 triệu đồng (giảm trừ gia cảnh) = 6 triệu đồng. Tính theo công thức trên, số thuế TNCN phải nộp chỉ còn 350.000 đồng/tháng.

Tương tự, một cặp vợ chồng, chỉ có người chồng đi làm có thu nhập 15 triệu đồng/tháng, có một con, phải nộp thuế như sau:

Theo quy định hiện hành: 15 triệu - 5,6 triệu đồng (giảm trừ 4 triệu đồng cho người chồng + 1,6 triệu đồng cho con) = 9,4 triệu đồng. Theo biểu thuế lũy tiến từng phần: 5 triệu đầu tiên x 5% = 250.000 đồng. 4,4 triệu còn lại x 10% = 440.000 đồng. Tổng cộng số thuế TNCN phải nộp 690.000 đồng.

Từ 1-7-2013: 15 triệu - 12,6 triệu (giảm trừ 9 triệu cho người chồng + 3,6 triệu cho con) = 2,4 triệu đồng. Theo bậc 1 biểu thuế lũy tiến từng phần, số thuế TNCN phải nộp là 2,4 triệu x 5% = 120.000 đồng.



1-10 of 10