THÔNG TIN NHANH‎ > ‎

Âm nhạc


Tin mới nhất

  • -Tuyển sinh CĐSP Âm nhạc VLVH 2016      Sau khi làm việc với Sở GDĐT An Giang, trường ĐHAG tuyển sinh lớp Cao đẳng chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc hệ vừa làm vừa học (VLVH).     Theo thông ...
    Được đăng 05:07, 5 thg 4, 2016 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Vĩnh biệt người thầy âm nhạc dân tộc Trần Văn Khê        Giáo sư Trần Văn Khê, cây đại thụ của nền âm nhạc dân tộc Việt Nam đã qua đời vào lúc 2g55 sáng hôm nay ngày 24-6 tại ...
    Được đăng 09:02, 24 thg 6, 2015 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Ngày Âm nhạc Việt Nam 3/9 LÀ “NGÀY ÂM NHẠC VIỆT NAM”      Thủ tướng đồng ý với đề xuất của Hội Nhạc sỹ Việt Nam lấy ngày 3/9 hằng năm là Ngày Âm ...
    Được đăng 06:41, 28 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Ở hai đầu nỗi nhớ - Phan Huỳnh Điểu Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 12: Ở hai đầu nỗi nhớNăm 2004, người viết có dịp gặp “nhạc sĩ của tình yêu” Phan Huỳnh Điểu, ông bảo ...
    Được đăng 07:26, 16 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn
  • -Nguyễn Vĩnh Bảo - đệ nhất danh cầm Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử Nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng, biểu diễn, đóng ...
    Được đăng 08:26, 19 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


-Tuyển sinh CĐSP Âm nhạc VLVH 2016

đăng 02:09, 20 thg 2, 2016 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 05:07, 5 thg 4, 2016 ]

     Sau khi làm việc với Sở GDĐT An Giang, trường ĐHAG tuyển sinh lớp Cao đẳng chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc hệ vừa làm vừa học (VLVH).
     Theo thông báo tuyển sinh, thời hạn nhận hồ sơ đến hết ngày 19/3/2016 (liên hệ mua hồ sơ tại Phòng Đào tạo ĐHAG).
     - Đối tượng: Giáo viên dạy Âm nhạc (dạng bồi dưỡng hoặc trung cấp) và các đối tượng  khác có nhu cầu.
     - Nội dung thi: Ngữ văn và năng khiếu (hát, thẩm âm,tiết tấu).
     - Ôn thi: bắt buộc
      
     Do nhu cầu xếp chức danh giáo viên đang giảng dạy tại các trường, xếp theo bằng cấp. Đối với giáo viên đang giảng dạy Âm nhạc tại các trường tiểu học phải có trình độ tối thiểu cao đẳng chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc.

     Theo thông tin từ Phòng Tổ chức Sở GDĐT-AG, những giáo viên Âm nhạc chưa đủ bằng cấp theo quy định sẽ thiệt thòi trong việc xếp chức danh, sẽ không được bố trí đứng lớp chủ nhiệm dù đã có bằng ĐHSP tiểu học từ xa và khả năng xếp vào diện giảm biên chế hoặc được thay thế bởi sinh viên CĐSP Âm nhạc mới ra trường.

    Xem thông báo
    

-Vĩnh biệt người thầy âm nhạc dân tộc Trần Văn Khê

đăng 08:20, 24 thg 6, 2015 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 09:02, 24 thg 6, 2015 ]

       Giáo sư Trần Văn Khêcây đại thụ của nền âm nhạc dân tộc Việt Nam đã qua đời vào lúc 2g55 sáng hôm nay ngày 24-6 tại bệnh viện nhân dân Gia Định.

        Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết 10g sáng 26-6, gia đình sẽ làm lễ phát tang. Lễ viếng giáo sư Trần Văn Khê sẽ bắt đầu từ 12g ngày 26 đến hết đêm 28-6. Ban tổ chức lễ tang có chuẩn bị vòng hoa luân lưu để phục vụ nhu cầu của các tổ chức, cá nhân đến viếng và chia buồn cùng gia đình GS Trần Văn Khê.

    Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Hoài Nam cho bài viết Nghe nhạc để yêu đời hơn của báo Tuổi Trẻ - Ảnh: Quang Định

Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Hoài Nam cho bài viết Nghe nhạc để yêu đời hơn của báo Tuổi Trẻ - Ảnh: Quang Định

        Giáo sư Trần Văn Khê sẽ được hỏa táng tại Bình Dương, tro cốt của giáo sư sẽ được mang về tư gia (số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Q.Bình Thạnh, TP.HCM) để những người yêu kính giáo sư có thể tiếp tục thăm viếng.

Tuoitre.vn

Mời bạn xem phim Trần Văn Khê - Người truyền lửa



-Ngày Âm nhạc Việt Nam

đăng 05:50, 28 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 06:41, 28 thg 9, 2014 ]

Hội nhạc sĩ Việt Nam
3/9 LÀ “NGÀY ÂM NHẠC VIỆT NAM”

      Thủ tướng đồng ý với đề xuất của Hội Nhạc sỹ Việt Nam lấy ngày 3/9 hằng năm là Ngày Âm nhạc Việt Nam.

      3/9/1960 là ngày Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc hợp xướng và quần chúng nhân dân hát bài ca “Kết đoàn” tại công viên Bách Thảo Hà Nội nhân dịp chào mừng Đại hội Đảng lần III năm 1960.

baodientu.chinhphu.vn 
ngày 27/9/2014

-Ở hai đầu nỗi nhớ - Phan Huỳnh Điểu

đăng 07:21, 16 thg 9, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 07:26, 16 thg 9, 2014 ]

Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 12: Ở hai đầu nỗi nhớ

Năm 2004, người viết có dịp gặp “nhạc sĩ của tình yêu” Phan Huỳnh Điểu, ông bảo, trong gia tài ca khúc phổ thơ của mình, một trong những bài ông tâm đắc nhất là Ở hai đầu nỗi nhớ (phổ từ thơ Trần Hoài Thu).


 
Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu

Trong những đêm nằm nghe tiếng mưa rơi ngoài hiên, mưa lướt trên mái nhà, mưa xuyên qua cành lá... mà bật máy, nghe Bảo Yến hát: “Đêm nghe tiếng mưa rơi, đếm mấy triệu hạt rồi, mà chưa vơi nỗi nhớ... Ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn. Ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn”, thì chắc là những kẻ đang yêu (chưa kể là phải cách xa) đều nghe tim mình thổn thức, nhớ nhung. Đặc biệt, có lẽ Bảo Yến là một trong những giọng ca chuyển tải được hết cái da diết, khắc khoải đầy tâm trạng của một người đang nhớ đến người yêu nơi xa xôi, diệu vợi giữa một đêm mưa thê thiết.

2 năm trước, có dịp ngồi chung xe với một số nhạc sĩ đi về Bến Tre (trong đó có nhạc sĩ Quốc Dũng - chồng của ca sĩ Bảo Yến), tôi nói với anh: “Bảo Yến hát Ở hai đầu nỗi nhớ rất tuyệt. Thích nhất là những đoạn intro, nhạc dẫn...”. Mắt Quốc Dũng sáng lên, cười bảo: “Mình phối đó!”. Vâng, quá hay, từ bài thơ đến người phổ nhạc, người phối.

Trai Hà Nội, gái Sài Gòn

Tác giả bài thơ là một nhà thơ nghiệp dư. Anh tên thật là Trần Đình Chính, sinh năm 1955 tại Hà Nội, học Trường cấp 3 Trần Phú và được lệnh nhập ngũ vào năm cuối cấp (lớp 10, năm 1973). Vào Nam chiến đấu, có lần Trần Đình Chính suýt hy sinh trong một cuộc giao tranh ở vùng tiếp giáp hai tỉnh Cần Thơ và Vĩnh Long vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.

Cởi áo lính, Trần Đình Chính theo học Khoa Ngữ văn (Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội). Ra trường, được nhận vào Báo Nhân Dân, rồi anh được phân công vào đoàn cán bộ, chuyên gia sang Campuchia hỗ trợ bạn làm báo (dù lúc này Chính chỉ là phóng viên thực tập).

Cùng thời gian ấy cũng có một đoàn của Sở Thương nghiệp TP.HCM sang giúp bạn xây dựng mạng lưới bán hàng. Trong đoàn này có Mai Đào, từng là sinh viên Văn khoa Sài Gòn. Tại thủ đô Phnom Penh nước bạn, định mệnh đã xui khiến Trần Đình Chính gặp và yêu Mai Đào. Ngày ấy, Chính 24 tuổi còn Mai Đào mới 20. Chàng dân Hà Nội, nàng người Sài Gòn. Tên của nàng góp cả hai loài hoa tượng trưng cho mùa xuân ở Sài Gòn và Hà Nội, và nàng cũng đẹp như hoa xuân. Phnom Penh lúc đó hoang vắng bởi bọn Pol Pot vừa tháo chạy khỏi thủ đô. Những lúc rảnh rỗi, Chính thường đưa Mai Đào đi thăm các đền chùa cổ kính. Đêm đến, đôi tình nhân sánh vai nhau ngồi ngắm sao, để sau này những giây phút ấy khắc sâu trong nỗi nhớ của Trần Đình Chính: “Ngôi sao như xuống thấp. Cho ta gần nhau hơn”.

Thế nhưng, họ chỉ hạnh phúc bên nhau khoảng một năm, bởi thời điểm mới giải phóng, còn nặng xét lại thành phần lý lịch “bên này, bên kia”. Rồi gia đình của Mai Đào phải rời Sài Gòn đi kinh tế mới ở Sông Bé, cô phải về nước phụ cha mẹ, còn Trần Đình Chính cũng được gọi về Hà Nội (tháng 4.1980) sau một năm rưỡi sống trên nước bạn.

Đêm nghe tiếng mưa rơi

Những đêm mưa ở Hà Nội luôn làm Chính vật vã, nhớ nhung đến khổ sở. Trong lòng cứ tự hỏi “Người ấy bây giờ ra sao rồi?”. Nằm ở Hà Nội mà nghĩ về một nơi nào đó ở Sông Bé - cả một không gian cách trở (dạo ấy, điều kiện giao thông còn rất hạn chế).

 
Nhà thơ Trần Đình Chính - Ảnh: T.L

Và, vào một đêm mưa Hà Nội với nỗi nhớ cồn cào như thế, Trần Đình Chính đã ngồi bật dậy làm thơ: “Có một không gian nào/Đo chiều dài nỗi nhớ?/Có khoảng mênh mông nào/Sâu thẳm hơn tình thương?/Anh đang ở

Pha-lin(*)/Rừng khộp khô trong nắng/Thương em ngoài ấy lạnh/Muốn gởi chút nắng rừng/Chào Phnom Penh mến yêu... Ở đầu này nỗi nhớ/Anh mơ về bên em/Ngôi sao như xuống thấp/Cho ta gần nhau hơn/Ở đầu kia nỗi nhớ/Nằm đếm tiếng mưa rơi/Đếm mấy triệu hạt rồi/Mà chưa vơi nỗi nhớ/Ở hai đầu nỗi nhớ/Yêu và thương sâu hơn/Ở hai đầu nỗi nhớ/Nghĩa tình đằm thắm hơn” (Mùa hè 1980).

Bài thơ được làm trong 8 phút. Dưới bài thơ, anh ký tên Trần Hoài Thu (sau này anh lấy bút danh đặt tên cho con gái). Bốn năm sau (1984), bài thơ được đăng trên Báo Nhân Dân. Năm 1987, bài thơ “lọt vào mắt xanh” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và với khả năng phổ nhạc bậc thầy, “Nhạc sĩ của tình yêu” (danh hiệu này do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đặt cho) đã chắp cánh cho bài thơ phổ nhạc bay cao, bay xa...

Cho đến bây giờ, hơn 30 năm sau, không ai biết “người đẹp mang tên hai loài hoa xuân” đang ở đâu giữa dòng đời xuôi ngược. Riêng tác giả bài thơ thì lại có một cuộc đời đầy trắc trở, một hậu sự buồn: cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, sau đó anh tái hôn với một nữ đồng nghiệp còn khá trẻ. Nhưng hạnh phúc chưa được bao lâu thì anh phát hiện bị chứng bệnh tiểu đường giai đoạn cuối. Anh lìa trần ngày 9.5.2014, thọ 60 tuổi.

Hà Đình Nguyên

>> Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 11: Từ 'Dư âm' đến 'Một khúc tâm tình
>> Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 10: Chiều nay sương khói lên khơi...
>> Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 9: “Đôi ta làm bạn thong dong...”
>> Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 8: Mưa bay trên tầng tháp cổ

Theo Báo Thanh Niên

-Nguyễn Vĩnh Bảo - đệ nhất danh cầm

đăng 08:25, 19 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 08:26, 19 thg 2, 2014 ]

Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử Nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng, biểu diễn, đóng đàn, sáng tạo nhạc cụ và các loại lên dây (tunings), cùng với kỹ thuật diễn tấu cũng như tư duy mỹ quan âm nhạc Việt Nam.

>> Báu vật đờn ca tài tử - Kỳ 2: Bạch Công Tử bị bỏ quên
>> Báu vật' đờn ca tài tử

 Báu vật đờn ca tài tử - Kỳ 3: Nguyễn Vĩnh Bảo - đệ nhất danh cầm
Nhạc sư Vĩnh Bảo - Ảnh: nhân vật cung cấp

Năm 1972, GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã thực hiện cho Ocora (Radio-France) một đĩa nhạc Tài tử Nam bộ. Đĩa này đã khiến cho UNESCO chú ý và cơ quan này đã mời 2 người thực hiện thêm đĩa Collection UNESCO (Musical Sources, hãng Philips của Hà Lan sản xuất) với Trần Văn Khê (đàn tỳ bà), Nguyễn Vĩnh Bảo (đàn tranh) hòa tấu các bản Bình bán, Kim tiền, Tây Thi, Cổ bản. Riêng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo còn độc tấu đàn tranh các bản Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung và Tứ đại oán. Ít tháng sau đó, UNESCO đã điều đình với GS-TS Trần Văn Khê để xin mua đứt bản quyền đĩa này.

Tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã in đậm trong trí nhớ của GS-TS Trần Văn Khê, nên hơn 20 năm trước đây, ông Khê từng phát biểu tại Hà Lan: “Nếu ngày nào đó nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo mất đi thì thế giới sẽ mất đi tiếng đàn liêu trai, phù thủy độc nhất vô nhị...”, và ông đã xưng tụng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là “Đệ nhất danh cầm”.

18 năm về trước, người viết bài từng đến nhà nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo ở trong con hẻm nhỏ bên hông nhà thờ Gia Định (đường Bùi Hữu Nghĩa, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) phỏng vấn khi ông gần 80 tuổi. Tại lễ đón nhận Bằng UNESCO tôn vinh đờn ca tài tử diễn ra vào ngày 11.2 tại Hội trường Thống Nhất (TP.HCM), lại thấy ông xuất hiện (rất âm thầm) bên cạnh GS-TS Trần Văn Khê, soạn giả Viễn Châu. Nhìn một ông già mái tóc dài bạc trắng, “tiên phong đạo cốt”, dáng điệu nhanh nhẹn, tôi không tin nổi ông đã... 97 tuổi!

Nguyễn Vĩnh Bảo sinh năm 1918, tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Từ nhỏ ông đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn)... nhưng nếu tính theo “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” thì ông đã học với gần 200 “thầy” trên khắp ba miền Nam Trung Bắc. Ông sở trường về “đờn ta” (đàn tranh, kìm, cò, gáo, bầu...) nhưng cũng rất thuần thục “đờn Tây” (mandoline, guitar, violon, piano...). Năm 1935, ông sáng chế ra dây Tỳ và dây Xề trên cây đàn gáo. Năm 20 tuổi (1938), ông được hãng đĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca. Năm 1955, ông cải tiến cây đàn tranh từ 16 dây thành đàn 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà không cần phải sửa dây, kéo nhạn. Cây đàn tranh này đã được chấp nhận, các tiệm đóng đàn cũng theo khuôn mẫu của ông. Từ đó cây đàn tranh 16 dây không còn được sử dụng tại Việt Nam đến tận ngày nay.

Từ 1955 tới năm 1964, ông được bổ nhiệm chức vụ Trưởng ban cổ nhạc miền Nam ở Trường Quốc gia âm nhạc Saigon. Năm 1963, ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Singapore. Năm 1969, ông đã thực hiện hai cuốn băng nhạc đờn ca tài tử do ông Nam Bình sản xuất và do ông điều khiển chương trình với sự cộng tác của 11 nhạc sư đờn tài tử lúc bấy giờ. Tất cả đã ra người thiên cổ ngoại trừ ông và nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn gia Viễn Châu) còn sống. Năm 1970, ông được Đài truyền hình NHK của Nhật Bản mời sang Tokyo để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh.

Có thể nói, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người tiên phong trong việc dạy đàn cho người nước ngoài qua phương pháp hàm thụ. Từ những năm 1960 đến 2004, ông đã ghi âm tiếng đàn vào băng cassette gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện. Sau này những học trò của ông đã trang bị cho thầy dàn máy vi tính, Mp3, máy in... để ông chuyển sang dạy trực tuyến (online) cho học trò nước ngoài. Tới nay dù ở tuổi 97, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn trên mạng internet cho một số người Việt hay ngoại quốc (Pháp , Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Mỹ...).

Năm 2006, tại hội thảo Dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 ở Honolulu (Hawaii, Mỹ), GS-TS Nguyễn Thuyết Phong qua bài tham luận Considering the Fate of Tài tử Music: Nguyễn Vĩnh Bảo, the Last Guardian of the Tradition (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử: Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ sau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhất trong nước. Năm 2008, Tổng thống Pháp tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) bậc “officier”. Ở Việt Nam chỉ có hai người được huy chương bậc này là GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo.


                                                                                                         Hà Đình Nguyên (Nguồn: Báo Thanh Niên)

-Đờn ca tài tử khác cải lương thế nào?

đăng 00:09, 18 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 01:04, 18 thg 2, 2014 ]


Một cuộc họp mặt của CLB đờn ca tài tử huyện Đức Hòa, Long An trong không gian ruộng đồng - Ảnh: Hải Phượng



Đờn ca tài tử khác cải lương thế nào?


      Xung quanh thắc mắc của người mộ điệu về sự khác nhau của đờn ca tài tử và cải lương, GS.TS Trần Văn Khê đã giải thích một cách ngắn gọn rằng: “Đờn ca tài tử là loại hình âm nhạc thính phòng, còn cải lương là loại hình sân khấu. Với đờn ca tài tử người ta đến để nghe, còn cải lương khán giả vừa xem vừa nghe. Đờn ca tài tử chú trọng đến bài bản, tiếng đờn, lời ca; cải lương quan tâm đến diễn tiến câu chuyện, diễn xuất của nhân vật. Tuy cùng sử dụng hệ thống bài bản cổ truyền với nền móng là 20 bài bản tổ nhưng trong một buổi đờn ca thì đờn ca tài tử thường chơi từng bài từ đầu đến cuối, cải lương chỉ sử dụng từng lớp ngắn gọn để phù hợp hoàn cảnh, tâm lý của nhân vật. Do vậy, đờn ca tài tử thường chơi ở tốc độ chậm, còn cải lương thường sử dụng tốc độ nhanh hơn...”.


      Đi sâu phân tích và hiểu rõ hơn về hai loại hình này chúng ta sẽ có nhiều phát hiện rất thú vị cho thấy sự sáng tạo mạnh mẽ của cha ông ta ngày xưa, để ngày nay chúng ta có một kho tàng văn hóa vô giá...



                                                                                                                             Ths.NS NGUYỄN THỊ HẢI PHƯỢNG (Nguồn: Báo Tuổi Trẻ)





-UNESCO vinh danh Đờn ca tài tử

đăng 20:31, 12 thg 2, 2014 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 01:02, 18 thg 2, 2014 ]

Đờn ca tài tử được vinh danh di sản thế giới


Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tái hiện sông nước miệt vườn Nam bộ tại sân khấu ở dinh Thống Nhất trong buổi lễ tôn vinh nghệ thuật đờn ca tài tử. Trong ảnh: tiết mục bài vọng cổ 16 nhịp Chuyện người xưa  tại buổi lễ - Ảnh: T.T.D.

Dù 20g chương trình mới chính thức khai mạc nhưng từ 16g đông đảo các nghệ sĩ, nghệ nhân đã tề tựu đông đủ tại khu vực phía sau sân khấu trong không khí đầy háo hức. Đối với họ, được góp mặt biểu diễn trong buổi lễ trang trọng này là một vinh dự lớn lao của cả cuộc đời lao động nghệ thuật.

Nét đẹp miền sông nước miệt vườn

Khuôn viên rộng lớn của hội trường Thống Nhất náo nhiệt và khác lạ khi được dựng thành một sân khấu khổng lồ, mang đậm nét văn hóa Nam bộ với dòng sông trải dài hơn 40m.

Nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn, tổng đạo diễn chương trình, cho biết: “Sân khấu lễ được dựng trong bốn ngày với những đạo cụ thật hoàn toàn nhằm tái hiện không gian sinh hoạt đúng của đờn ca tài tử”. Sân khấu gây ấn tượng mạnh với con sông dài, quang cảnh cũng như những sinh hoạt thường ngày của miền đất Nam bộ đã được tái hiện với những mái nhà tranh, lu hứng nước mưa, ghe bầu, xuồng ba lá, với cảnh tát nước, bắt cá, chèo ghe, với lục bình trôi, sen, súng, hoa cỏ dại, trái cây miệt vườn: mít, xoài, chôm chôm, dừa, nhãn...

Tất cả hòa quyện vào tiếng đờn, lời ca, điệu diễn đặc sắc của 13 tiết mục trình diễn: Lưu thủy trường, Dạ cổ hoài lang, Nhớ ơn tổ nghiệp, Mẹ và quê hương, Tô Huệ chức cẩm hồi văn, Sắc xuân... của những nghệ nhân, tài tử đờn, tài tử ca đến từ TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Bạc Liêu, Vĩnh Long...

Hạnh phúc một đời nghệ sĩ, nghệ nhân

Nghệ nhân Phan Văn Lựa năm nay đã 85 tuổi. Ông bắt đầu học chơi kèn và đờn cò từ năm 10 tuổi và từ đó bắt đầu cuộc sống rày đây mai đó khi theo chân các ban nhạc lễ đi biểu diễn ở các đình chùa, miếu, xóm trên miệt dưới... Đối với ông, trong hơn 70 năm đi theo đờn ca tài tử có lẽ đây là buổi biểu diễn đặc biệt nhất trong đời. Ông đến sớm và mặc áo dài khăn đóng, đợi hơn bốn giờ trong cánh gà, mắt lim dim, miệng nhẩm lại những giai điệu ngũ cung quen thuộc.

Được đào tạo bài bản về đờn ca tài tử tại Trường Sân khấu 2, sau đó là Nhạc viện TP.HCM và hiện nay đang tham gia giảng dạy tại Trường đại học Sân khấu - điện ảnh TP.HCM, nghệ nhân Phan Nhứt Dũng cho rằng sự công nhận của thế giới với âm nhạc dân tộc VN đã chứng tỏ rằng những di sản văn hóa mà cha ông để lại là thật sự vô giá và không thể phủ nhận. Bổn phận của những thế hệ sau là phải làm sao để những vốn quý đó không bị mai một, lai căng và biến mất.

Cùng tâm sự đó, nghệ sĩ Phương Trinh của CLB đờn ca tài tử tỉnh Bình Dương cho biết mình theo nghề là vì đam mê đã ngấm vào máu từ nhỏ, chứ đời sống nghệ sĩ nhạc cổ truyền nhìn chung rất khó khăn. Chị mong mỏi qua sự kiện trọng đại này, đờn ca tài tử chính thức có được một tiếng nói mạnh mẽ và lan tỏa thì những nghệ sĩ, nghệ nhân một đời theo nghề cũng sẽ được tôn vinh xứng đáng. Chị cũng bồi hồi nói nếu như ba chị - NSƯT Tư Còn, đệ nhất đờn kìm Bình Dương - còn sống đến hôm nay thì chắc ông sẽ vui đến nhường nào.

Dù đã ca bài Bánh bông lan - một bài ca cổ đậm chất Nam bộ nổi tiếng và rất được khán giả mộ điệu yêu thích - không biết bao nhiêu lần nhưng NSƯT Minh Vương vẫn tỏ ra khá hồi hộp ở lần biểu diễn đặc biệt này cùng NSƯT Phượng Hằng. Ông nói: “Tôi bắt đầu đi hát từ năm 1964, đến nay là đúng nửa thế kỷ theo nghiệp tổ rồi, không ngờ lại có được niềm vinh dự này. Thật quá sức mãn nguyện!”.

Nhạc sư Vĩnh Bảo dù tuổi già sức yếu nhưng vẫn đến tham dự chương trình từ sớm. Ông thẳng thắn bày tỏ mong muốn: “Tôi ước gì sau sự kiện này đờn ca tài tử sẽ được đưa vào trường học để tụi nhỏ biết nó là gì. Từ biết rồi mới hiểu, từ hiểu rồi mới yêu”.

Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng may mắn có mặt trong đoàn đại biểu VN tham dự phiên họp của UNESCO ở thủ đô Baku của nước Cộng hòa Azerbaijan. Chị kể khi nghe tiếng búa gõ xuống quyết định công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, tất cả đại biểu trong đoàn VN đã vui mừng không kìm được nước mắt, tay ai cũng run run giương cao lá cờ Tổ quốc mà khó khăn lắm mới tìm được trên nước bạn. Kể từ giây phút bước ngoặt đó, ai cũng tự hào tin rằng đờn ca tài tử đã chính thức bước lên một tầm cao mới, trở thành một di sản vô giá không chỉ của VN mà còn là của nhân loại. Và những điều vô giá thì phải được đối xử trân trọng và đúng tầm - đó là điều mà tất cả những nghệ nhân, nghệ sĩ, người yêu quý đờn ca tài tử đang kỳ vọng.

H.OANH - Q.NGUYỄN

Công bố chương trình hành động quốc gia vì đờn ca tài tử

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng đông đảo các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và TP.HCM, đại diện các cơ quan ban ngành, các nhà khoa học, mẹ Việt Nam anh hùng, các nghệ nhân tài tử đờn ca, nghệ sĩ lão thành, người dân TP... đã đến dự lễ. Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện sự vui mừng, vinh dự cũng như xúc động khi loại hình nghệ thuật đặc sắc của vùng miệt vườn sông nước Nam bộ được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) vinh danh.

Thủ tướng nhấn mạnh: “Tôi yêu cầu Bộ VH-TT&DL, các cơ quan liên quan, các đảng bộ, chính quyền cùng các nghệ sĩ - nghệ nhân và đồng bào ta, nhất là các địa phương quê hương của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, với tất cả tình cảm và trách nhiệm hãy hợp tác chặt chẽ, triển khai có hiệu quả chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị đối với nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ; để nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ - một loại hình nghệ thuật độc đáo vừa mang tính dân gian vừa mang tính bác học - luôn được bảo tồn và phát triển sáng tạo, luôn có vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào miền Nam, của nhân dân Việt Nam và của nhân loại”.

Bà Katherine Muller-Marin, trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Việt Nam, đã công bố quyết định và trao bằng của UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh. Bà Katherine cho biết chính những nét hay - đẹp, thể hiện lòng dũng cảm, bản tính hiền hòa nhưng cũng rất cương trực cùng khí phách của người dân Nam bộ thông qua nghệ thuật đờn ca tài tử cùng tình yêu và lòng quyết tâm bảo vệ nghệ thuật truyền thống của người dân VN đã thuyết phục Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ văn hóa phi vật thể lần thứ 8 công nhận hôm 5-12-2013.

Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh đã đại diện cộng đồng 21 tỉnh thành có nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ lên nhận bằng và trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VH-TT&DL cho các cơ quan, cá nhân có những đóng góp tích cực để giữ gìn và phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử. Dịp này, bộ trưởng cũng đã công bố chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ.

Tối nay 12-2, chương trình biểu diễn đờn ca tài tử tiếp tục diễn ra tại hội trường Thống Nhất, mở cửa tự do cho công chúng.

Ba điều ước cho đờn ca tài tử

Ngày 5 tháng 12 năm 2013 tại TP Baku (Azerbaijan).

Cộp... cộp... cộp... Tiếng búa gõ xuống như những tiếng chuông vang lên trong lòng chúng tôi khi đờn ca tài tử được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại. Những lá cờ đồng loạt giơ lên, hạnh phúc vỡ òa trong những vòng tay siết chặt, những môi cười mà khóe mắt cay cay.

Nghệ nhân dân gian, NSƯT Ba Tu đã xúc động thốt lên: “Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất trong cả cuộc đời tui. Sống với đờn ca tài tử đến từng tuổi này, được nhìn thấy đờn ca tài tử được vinh danh là tui thấy mãn nguyện lắm rồi...”.

Gần như ngay lập tức, những người quan tâm đến đờn ca tài tử ở Việt Nam cũng nhận được tin vui.

Từ Việt Nam, GS.TS Trần Văn Khê gửi mail kể lại rằng ông đã thắp nén nhang trước bàn thờ, chắp tay cảm ơn tổ nghiệp đã cho thầy có được niềm tin vững vàng trên con đường truyền bá âm nhạc dân tộc để có được niềm vui sướng ngày hôm nay.

Trên các phương tiện truyền thông, tin tức về đờn ca tài tử được cập nhật liên tục, các phương tiện liên lạc ngập tràn lời chia sẻ hạnh phúc từ những người yêu mến bộ môn nghệ thuật này. Điều đó cho chúng tôi niềm tin lạc quan về sức sống mạnh mẽ của đờn ca tài tử trong lòng mọi người dân Việt.

Không lạc quan sao được khi Trung tâm Văn hóa TP.HCM đã thống kê được riêng tại TP.HCM hiện nay có khoảng 150 câu lạc bộ đội nhóm tài tử với khoảng 2.000 hội viên thường xuyên tham dự. Đây chỉ là con số chính thức được đăng ký, chưa kể đến những người yêu mến và thường xuyên theo dõi, cập nhật cũng như tập luyện bộ môn này ở nhiều nhóm riêng. Điều đó cũng có ý nghĩa rằng niềm vui sướng và hãnh diện khi đờn ca tài tử được vinh danh sẽ có một tác động tích cực đến môi trường văn hóa dân tộc của TP.HCM nói riêng, Việt Nam nói chung.

Lễ đón nhận bằng của Unesco đã diễn ra tại hội trường Thống Nhất. Các tài tử ca và đàn từ nhiều tỉnh thành đã tề tựu về đây tập luyện từ nhiều ngày trước, ai cũng hân hoan, nao nức cho ngày lễ trọng đại này. Mọi người vừa chuẩn bị trang phục, nhạc cụ một cách cẩn thận, vừa nhắc lại những kỷ niệm đáng nhớ trong những chuyến đi đã qua và những mong ước cho tương lai sắp đến.

Nhưng ước mong gì sau lễ vinh danh?

Đó là các “thầy”, các”nhạc sư” đáng kính trọng sẽ sống được một cách đủ đầy để có thể chuyên tâm làm nghề và có thể đem hết tâm huyết của mình truyền lại cho các thế hệ tiếp theo.

Những người chơi nhạc tài tử “đúng phong cách tài tử” có được nơi chốn để có thể cùng nhau hòa đàn, những người yêu nhạc có thể đến nghe, đến ca và thưởng thức giọng ca của những tài tử khác.

Điều ước thứ ba là trong những tiết học âm nhạc ở nhà trường, học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức cơ bản về đờn ca tài tử đã được thế giới vinh danh và một số loại hình nghệ thuật dân tộc khác.

Có thể còn nhiều điều ước muốn riêng của từng người, nhưng có lẽ điều ước lớn nhất của những người “chơi nhạc” là ước ao “vẫn sẽ được chơi nhạc” đến cuối cuộc đời.

Ths-NS NGUYỄN THỊ HẢI PHƯỢNG

 Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

Vinh danh đờn ca tài tử - di sản văn hóa của nhân loại


20 giờ ngày 11.2 tại Hội trường Thống Nhất (TP.HCM) đã diễn ra lễ đón nhận bằng của UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vinh danh đờn ca tài tử - di sản văn hóa của nhân loại

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi lễ - Ảnh: Diệp Đức Minh

 Biểu diễn hoạt cảnh đờn ca tài tử tại lễ vinh danh
Biểu diễn hoạt cảnh đờn ca tài tử tại lễ vinh danh 

Tham dự buổi lễ có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  và nhiều lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư và lãnh đạo chính quyền TP.HCM.

Về phía Tổ chức UNESCO, có bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có các vị đại diện các lãnh sự quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế, đại diện của 21 tỉnh thành thuộc miền Đông và miền Tây Nam bộ quê hương của loại hình đờn ca tài tử, các giáo sư, tiến sĩ, nghệ sĩ nhân dân, soạn giả và các nghệ nhân...

Bà Katherine Muller-Marin đã đại diện Tổ chức UNESCO trao Bằng công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của nhân loại cho đại diện phía Việt Nam là Bộ trưởng VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh. Bà nói: “Đây là bộ môn nghệ thuật đã đưa con người đến với nhau từ hàng trăm năm trước. Nghệ thuật này thể hiện được cái tâm tư, khí phách của con người miền sông nước, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việc UNESCO công nhận đờn ca tài tử là DSVHPVT của nhân loại không chỉ là niềm tự hào của người dân Việt Nam mà còn để cộng đồng nhân loại có cơ hội sẻ chia, tìm hiểu và có cơ hội thưởng thức được phần nào những giá trị tinh thần tuyệt vời này...”.

Bộ trưởng  Hoàng Tuấn Anh cũng đã công bố Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 7 điểm nhằm phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử với những tác động tích cực từ phía nhà nước trong cuộc sống hằng ngày.

Gạch nối giữa văn hóa bác học và văn hóa dân gian

Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh những giá trị độc đáo của đờn ca tài tử Nam bộ:

“Trong suốt chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam ta đã không ngừng xây dựng, bồi đắp, hun đúc một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng và giàu bản sắc dân tộc. Thành quả sáng tạo, giữ gìn, trao truyền của cha ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng DSVH vật thể và phi vật thể đồ sộ - phong phú. Trong kho tàng di sản quý báu đó có đờn ca tài tử Nam bộ - một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình và những giai điệu ngọt ngào sâu lắng của dân ca miền Trung và miền Nam. Đây là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng miệt vườn sông nước Nam bộ, là sự kết hợp hòa quyện - đặc sắc giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta vừa mang những nét đặc sắc của người dân phương Nam - cần cù, bình dị, chân thành, phóng khoáng, nghĩa hiệp, can trường nhưng rất đỗi nhân văn của những người con “Từ độ mang gươm đi mở cõi. Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (thơ Huỳnh Văn Nghệ).

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ không chỉ có vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam bộ mà còn góp phần quan trọng làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của cả dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là gạch nối giữa văn hóa bác học và văn hóa dân gian, giữa nghệ thuật truyền thống từ ngàn xưa với nghệ thuật của ngày mai và đã góp phần tạo nên sự giao lưu cần thiết, đa dạng của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại.

Việc UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là DSVHPVT đại diện của nhân loại thể hiện sự trân trọng của quốc tế đối với loại hình nghệ thuật đặc sắc này của Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Nam bộ, của người Việt Nam chúng ta mà còn góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự đa dạng các biểu đạt văn hóa trong kho tàng văn hóa thế giới. Đồng thời cũng là một minh chứng sống động về sức sống, sức lan tỏa của văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập của văn hóa thế giới”.

Niềm tự hào của Nam bộ

Người dân vùng Ngũ Quảng là những lưu dân đầu tiên theo lệnh chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam. Trong số họ, có nhiều người vốn là giáo phường nhạc lễ của triều đình Huế. Sau những giờ lao động mệt nhọc, họ ôm đàn tìm đến nhau, cùng tấu lên những khúc nhạc như là một hình thức để thư giãn. Những nhạc cụ thường sử dụng trong đờn ca tài tử gồm đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (còn gọi là tứ tuyệt). “Đờn ca tài tử” ra đời từ đó và theo thời gian đã trở thành món đặc sản của miền Tây Nam bộ.

Người được coi là “ông tổ” của đờn ca tài tử chính là nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) - một nhạc quan của triều đình Huế. Vào nửa cuối thế kỷ 19, hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông vô nam truyền dạy nhạc lễ và nhạc tài tử. Người “nhạc sĩ tiến bối” này lang thang khắp Gia Định và vùng phụ cận (Đồng Nai, Bình Dương, Chợ Lớn, Cần Giuộc, Cần Đước, Long An...). Ở đâu ông cũng có những học trò xuất sắc và con số này lên đến hàng trăm người. Bên cạnh việc truyền dạy và biểu diễn nhạc khí, Nguyễn Quang Đại còn sáng tác, phóng tác rất nhiều bài bản. Ông cũng đã cùng với các học trò hệ thống hơi điệu bài bản tài tử thành 4 điệu: bắc, nam, hạ, oán (20 bản tổ), cải biên nhạc cung đình, sáng tạo nên nhạc lễ Nam bộ. Ông là chủ soái nhóm nhạc miền Đông trong khi các nhóm nhạc ở miền Tây do ông Kinh lịch Trần Quang Quờn thống lĩnh đã cùng làm cho loại hình đờn ca tài tử ngày càng phong phú, xứng đáng là “đặc sản” và là niềm tự hào của người dân vùng sông nước Nam bộ...

Cùng với nghệ thuật đờn ca tài tử (được chính thức ghi danh ngày 5.12.2013), tính đến nay Việt Nam đã có 8 loại hình được UNESCO công nhận là DSVHPVT của nhân loại, gồm: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Giang - Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009), Lễ hội Thánh Gióng (2010), Hát xoan (2011) và Lễ hội Hùng Vương (2012). 

Hà Đình Nguyên

Nguồn: Báo Thanh Niên

Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước


UNESCO vừa chính thức công nhận loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ít ai biết hơn 100 năm trước, nó đã gây “sốc” trên sân khấu Paris và Marseille (Pháp).

Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước 1 
Đoàn Đờn ca tài tử dự Hội chợ Thuộc địa năm 1906 ở Marseille, Pháp - Ảnh: Tư liệu của nhóm dự án Đông Dương

Cuối thế kỷ thứ 19 ở Mỹ Tho, nhóm đờn ca tài tử (ĐCTT) do ông Nguyễn Tống Triều làm trưởng nhóm đã vang danh. Ông Triều (còn gọi Tư Triều), sinh năm 1876, nổi tiếng với ngón đờn kìm, từng làm lay động trái tim rất nhiều người, trong đó có ông Viang (một viên chức người Pháp). Ông Viang đã can thiệp để ban nhạc tài tử Mỹ Tho sang Pháp dự Hội chợ thế giới Paris năm 1900. Sự kiện gây chấn động giới sân khấu ở “Kinh đô ánh sáng” là ban nhạc của những người An Nam này đã đệm Vũ khúc Đông Dương cho “Nữ hoàng sắc đẹp” Cléo de Mérode múa. Bà sinh năm 1875 ở Paris, xuất thân từ dòng dõi quý phái từ Bỉ, được học múa ba lê ở trường múa quốc gia nổi tiếng Opera Ballet ở Paris vào lúc 7 tuổi.

Trong các tư liệu do nhóm Dự án Đông Dương (gồm nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên - ĐH Quốc gia Úc, Giáo sư Yves Defrance - ĐH Rennes Pháp, nhà văn Ngô Thị Hạnh, đạo diễn Huy Moeller và nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp - Úc) sưu tầm được, có bài viết trên báo Le Monde Artiste ngày 14.10.1900: Đoàn hát người An Nam ở Nhà hát Đông Dương là đoàn duy nhất không muốn rời Hội chợ trước khi bế mạc (Hội chợ Paris diễn ra trong 5 tháng - NV). Đó là điều hiển nhiên, vì là đoàn thu hút khán giả nhiều nhất. Đúng thật là ở nhà hát này và với âm nhạc lanh lảnh của ban nhạc, cô Cléo de Mérode đã nhảy theo tiếng nhạc qua các bước chân một cách chậm rãi mơ mộng…

Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước 2
Cléo de Mérode và ban nhạc ĐCTT tại Paris năm 1900 - Ảnh: Tư liệu của nhóm dự án Đông Dương 

Còn nhà văn Maurice Talmeyr thì viết chi tiết hơn: ... Tôi đến dự buổi trình diễn ở Nhà hát Đông Dương. Hai bên sân khấu, 16 nhạc công người An Nam, ngồi dưới đất khoanh chân và chơi đàn  giữa hai đầu gối của họ, các dụng cụ âm nhạc chua chát và lạ lùng... Những gương mặt đánh sáp mờ ảo của các nhạc công ngồi xổm, với âm nhạc nhè nhẹ, lanh lảnh và hơi nhôn nhốt chua, vang âm, cuồn cuộn theo điệu múa. Toàn bộ tập hợp này rất dễ chịu. Nhưng minh tinh nào nhảy múa trước mắt tôi trong cảnh trí Đông Dương này?... Cô Cléo de Mérode! Vâng chính cô Cléo de Mérode với băng đô của cô ấy!... Dàn nhạc thì quả thật đúng là An Nam. Bạn không thể lầm được, cũng như không thể lầm về diện mạo của những nhạc sĩ, và nhất là diện mạo của ông trưởng đoàn của họ (tức Nguyễn Tống Triều - NV). Ông mặc áo dài màu đen, người mảnh khảnh đến ngạc nhiên, mảnh khảnh như cây vĩ (archet) sống động, với hình thù như một ngà voi già và cong. Nhưng mà ông ta nói được tiếng Pháp và cho tôi biết về những nhạc sĩ của đoàn ông ta…

 

Lịch sử hình thành ĐCTT

Người dân vùng Ngũ Quảng (5 tỉnh miền Trung) là những lưu dân đầu tiên theo lệnh chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam. Trong số họ, có nhiều người vốn là giáo phường nhạc lễ của triều đình Huế. Sau những giờ lao động mệt nhọc, họ ôm đàn tìm đến nhau, cùng tấu lên những khúc nhạc như một hình thức để thư giãn. ĐCTT ra đời từ đó và theo thời gian đã trở thành món đặc sản “quốc hồn, quốc túy” của miền Tây Nam bộ. Người được coi là “ông tổ” của ĐCTT chính là nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) - một nhạc quan của triều đình Huế. Vào nửa cuối thế kỷ 19, ông truyền dạy nhạc lễ và nhạc tài tử khắp Gia Định và vùng phụ cận (Đồng Nai, Bình Dương, Cần Giuộc, Cần Đước, Long An...). Nguyễn Quang Đại là chủ soái nhóm nhạc miền Đông trong khi các nhóm nhạc ở miền Tây do ông Trần Quang Quờn thống lĩnh.

Sau Hội chợ thế giới Paris, đoàn tài tử Mỹ Tho của ông Nguyễn Tống Triều (gồm các nghệ sĩ: Chín Quán, Mười Lý, Bảy Vô, Ba Đắc, Hai Nhiễu…) còn được mời sang Pháp biểu diễn tại Hội chợ thuộc địa 1906 (Marseille), và cũng gặt hái được những thành công vang dội. 

Nỗ lực gìn giữ và truyền bá

Phong trào ĐCTT ở hải ngoại phát triển từ năm 2005 trở lại đây. Hội Cổ nhạc miền Nam Việt Nam tại Nam California (Mỹ) thường tổ chức giải Phụng Hoàng để tuyển lựa tài năng mới, vì thế tinh thần học ca của các nhóm ĐCTT sôi động hơn hẳn. Các chương trình cải lương, vọng cổ trên đài truyền hình tiếng Việt ở Nam California cũng phát sóng nhiều hơn và phát đi nhiều tiểu bang.

Tại Paris (Pháp), cặp vợ chồng nghệ sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến luôn nỗ lực truyền bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới từ hơn 30 năm nay dưới hình thức các buổi hòa nhạc, dẫn giải âm nhạc trong trường học, hội thảo và trình diễn trong các trường đại học, tham dự các liên hoan âm nhạc dân tộc thế giới.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu tâm sự: “Tôi thường đi nước ngoài biểu diễn, vừa rồi có sang Pháp diễn tại Bảo tàng Guimet (Bảo tàng quốc gia về nghệ thuật châu Á) và nói chuyện với ba đài truyền hình tại Paris. Tôi ngạc nhiên và cảm động vì cái cách người ta trân trọng ĐCTT - cải lương của Việt Nam. Cảm động hơn nữa là ở Pháp có hội người Việt luôn ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc. Họ tổ chức các nhóm ĐCTT, ngay cả lớp trẻ cũng chịu khó học bài bản. Mỗi lần có nghệ sĩ nào bên Việt Nam sang họ đều hỗ trợ hết mình, muốn đờn loại nào có loại đó, muốn ai ca, ai diễn chung cũng đều có ngay”.

Còn ca sĩ Hương Lan thì nhận định: “Gần 20 năm trước, thiếu vắng những chương trình cải lương hay nhóm hát ĐCTT ở hải ngoại. Nay thì khác hẳn. Ở Mỹ, giới trẻ có tuổi thơ từng sống tại Việt Nam hay người tuổi trung và cao niên rất thích ĐCTT. Do người Việt ở ngoại quốc không có rạp riêng nên chỉ gặp tại nhà, sân vườn hay thậm chí là quán ăn, nhà hàng rồi ngồi lại với nhau, đôi khi một cây guitar thùng phím lõm là có thể hát cho nhau nghe ĐCTT. Mới đây, tôi và chồng ăn mì tại khu Phước Lộc Thọ, bang California (Mỹ), chợt thấy ấm lòng và hạnh phúc khi chứng kiến nhóm người tuổi trung niên ôm cây guitar hát ĐCTT rất hay dù giọng không phải nhà nghề nhưng cái tình với quê hương đất Tổ thì không thiếu. Tôi nghe mà nước mắt lưng tròng vì dù ở đâu người Việt mình cũng ráng gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc”.

Hà Đình Nguyên - Hoàng Kim - Đỗ Tuấn

Nguồn: Báo Thanh Niên

>> Đờn ca tài tử Nam bộ được công nhận di sản văn hóa phi vật thể
>> Cuộc thi sáng tác hưởng ứng Festival Đờn ca tài tử
>> 87 học viên được cấp chứng nhận tốt nghiệp đờn ca tài tử
>> Dự án phim đầu tiên về đờn ca tài tử đang tìm nhà đầu tư
>> Festival đờn ca tài tử lần đầu tiên được tổ chức tại Bạc Liêu
>> Đơn ca tài tử - Kỳ 3: Rạp hát, đĩa hát thầy Năm Tú
>> Đơn ca tài tử Nam bộ - Kỳ 2: Doanh nhân mê hát xướng
>> Đờn ca tài tử Nam bộ: Ngón đờn kìm của bậc tài hoa

>> Đờn ca tài tử khác cải lương như thế nào?


-Vĩnh biệt GS-TS-NSND Quang Hải

đăng 06:16, 5 thg 11, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 06:16, 5 thg 11, 2013 ]


05/11/2013 03:00
GS-TS-NSND Quang Hải - Ảnh: Gia đình cung cấp

Sau một thời gian bệnh nặng và được điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM), GS-TS-NSND Quang Hải đã từ trần lúc 22 giờ 45 ngày 3.11.2013 (1.10 năm Quý Tỵ), hưởng thọ 79 tuổi.

       GS-TS-NSND Quang Hải tên thật là Huỳnh Tấn Sĩ, sinh năm 1935 tại xã Tân Hội, H.Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông tham gia kháng chiến từ rất sớm. Năm 1954, ông tập kết ra bắc và được cử đi học tại Nhạc viện Léningrad (Liên Xô cũ) năm 1956. Sau hơn 10 năm theo học, ông tốt nghiệp tiến sĩ chỉ huy dàn nhạc và lý luận phê bình ở nhạc viện này (1968), ông cũng là người VN duy nhất (tới nay) đã chỉ huy dàn nhạc nghệ sĩ công huân Nga (một trong những dàn nhạc nổi tiếng nhất thế giới) với hàng chục buổi diễn.

      Về nước, ông làm Giám đốc Nhà hát Giao hưởng hợp xướng nhạc vũ kịch VN (Hà Nội, 1970-1975). Đất nước thống nhất, ông trở thành giám đốc đầu tiên của Nhạc viện TP.HCM và là người khởi xướng, tổ chức đào tạo tiến sĩ âm nhạc đầu tiên tại VN… Sau khi về hưu (1998), ông tiếp tục dạy bậc cao học cho đến lúc sức khỏe không còn cho phép.

       Suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, GS-TS-NSND Quang Hải đã có hàng trăm tác phẩm, gần 60 công trình khoa học, tiểu luận, tham luận và hàng trăm bài báo trong và ngoài nước.  

       Linh cữu GS-TS-NSND Quang Hải quàn tại Nhà tang lễ TP.HCM (25 Lê Quý Đôn, Q.3), lễ động quan lúc 14 giờ ngày 6.11.2013. An táng tại nghĩa trang Hội Tương tế Bến Tre (số 196 tỉnh lộ 43, P.Bình Hòa, TX.Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Hà Đình Nguyên 


-Vĩnh biệt nhạc sĩ Văn Giảng

đăng 18:53, 13 thg 5, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 19:05, 13 thg 5, 2013 ]

NHẠC SĨ VĂN GIẢNG TỨC THÔNG ĐẠT ĐÃ QUA ĐỜI
(13/5/2013 04:02 PM) 

      Tin Melbourne - Một trong những nhạc sĩ lão thành của Việt Nam, nhạc sĩ Văn Giảng tên thật là Ngô Văn Giảng, pháp danh Minh Thông, đã qua đời tại thành phố Melbourne tại Úc Đại Lợi, hưởng thọ 89 tuổi. Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế. Xuất thân trong một gia đình trung lưu có truyền thống về âm nhạc; ông nội của Văn Giảng là một nhạc sĩ cổ nhạc, ngay từ bé ông đã tỏ ra những năng khiếu về âm nhạc. Ông bắt đầu tập chơi mandoline rồi sau đó đến guitar. Ông từng dạy nhạc ở Huế, rồi ông vào Saigon thi tú tài và tốt nghiệp cử nhân ở đó. Sau khi thi đỗ Anh văn ở Hội Việt Mỹ, ông trúng tuyển và sang Hoa Kỳ học âm nhạc tại Hawaii và Bloomington. 

       Tốt nghiệp xuất sắc, ông được học bổng để tiếp tục nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Phần lớn các sáng tác của Văn Giảng thuộc thể loại hùng ca như Thúc quân, Lục quân Việt Nam, Đêm Mê Linh, Từ Đàm Quê Hương Tôi.. Ông còn viết tình ca với bút danh Thông Đạt, nổi tiếng nhất là nhạc phẩm Ai về sông Tương, Đôi mắt huyền, Hoa cài mái tóc, Tình em biển rộng sông dài. Sau Tết Mậu Thân 1968, Văn Giảng dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình và soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia, Sóng Nhạc. Cũng trong thời gian này, với bút danh Thông Đạt, ông viết tiếp một số tình khúc khác.

      Đồng thời ông được Bộ Văn hóa Giáo dục đề cử làm Trưởng phòng Học vụ Nha Mỹ thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật. Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng ở lại Việt Nam cho đến năm 1981 ông vượt biên đến đảo Natuna Nam Dương, sau chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác một số bài nói lên thân phận của những người lưu vong và một số 70 ca khúc khác. 

      Ngày 20 tháng 5 1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn. Nhạc sĩ Văn Giảng còn sáng tác thêm nhiều tình khúc, trước khi qua đời trong sự thương tiếc của mọi người. Tang lễ sẽ diễn ra ngày hôm nay tại Melbourne, và lễ hỏa táng vào ngày mai thứ ba. SB-TN cùng trung tâm Asia cùng tất cả anh chị em nghệ sĩ xin kính phân ưu cùng toàn thể tang quyến, cầu chúc hương hồn người nghệ sĩ sớm về nơi vĩnh hằng.

Nguồn: http://sbtn.net

                                                                 TIỂU SỬ NHẠC SĨ VĂN GIẢNG 
                                                            Tác Giả: Văn Giảng 

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn

Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang

Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai

Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi... 




Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc "Lục Quân Việt Nam" của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:



... Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha

Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù

Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương

Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam...



Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm. 



Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông "thầy hụt" kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.



Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân. 



Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.



Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như "Thúc Quân" (1949), "Lục Quân Việt Nam" (1950), "Đêm Mê Linh" (1951), "Quân Hành Ca" (1951), "Qua Đèo" (1952), "Nhảy Lửa" (1953) v.v... nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là "Thông Đạt" với ca khúc bất hủ "Ai Về Sông Tương" mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:
Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương...


Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 - 60.



Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó. 



Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng. 



Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài "Ai Về Sông Tương", không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản "Ai Về Sông Tương" được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt trong thời gian sau đó:
... Thu nay về vương áng thê lương

Vắng người duyên dáng tôi thương

Mối tình tôi vẫn cô đơn

Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em

Mơ hoài hình bóng không quên

Hương tình mộng say dịu êm...


Sau nhiều lần được nghe bài "Ai Về Sông Tương" quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài "Ai Về Sông Tương" là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai! 



Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài "Mùa Thi" (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, "bay" nghẹn ngào, "bám", ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài "Ai Về Sông Tương" với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu "Blues" tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó. 



Nhạc phẩm "Ai Về Sông Tương" đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: "Đôi Mắt Huyền", "Hoa Cài Mái Tóc", "Tình Em Biển Rộng Sông Dài", "Xin Đừng Chờ Em Nữa" v.v...



Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng - Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như "Từ Đàm Quê Hương Tôi", "Mừng Đản Sanh", "Ca Tỳ La Vệ", "Vô Thường", "Hoa Cài Áo Lam" v.v...



Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :"Hát Mà Học" gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.



Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu "Việt Thanh", một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt... hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm... 



Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo "Ai Đưa Con Sáo Sang Sông", một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển "Kỹ Thuật Hoà Âm" dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.



Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an - ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này - nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia - Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.



Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật. 



Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm "Ngũ Tấu Khúc" (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).



Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là "Natuna người tình đầu" cùng một số 70 ca khúc khác.



Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v...



Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v... Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.



Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.



Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.


Lê Dinh




-Ns Nguyễn Văn Tý: Dư âm một thuở ngậm ngùi

đăng 21:50, 28 thg 4, 2013 bởi Quang Minh Nguyễn   [ đã cập nhật 22:14, 28 thg 4, 2013 ]





TT - Một chiều tháng 4 tôi đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý tại ngôi nhà nhỏ của ông nằm trong hẻm Trần Khắc Chân, Q.1, TP.HCM.

Ông cười hiền hậu: "Lâu lắm mới có một ca sĩ đến thăm chú đấy". Hôm trước tết con có đến mà - tôi định nói vậy nhưng rồi khóe miệng ông rung rung làm tôi tự hỏi đó là niềm vui hay sự xót xa...

"Mỗi ngày hết nằm thì lại ngồi, ngồi và lại trông ngóng mong đợi, đợi điều gì ư, đợi có ai đó đến thăm là niềm an ủi, là vui lắm rồi vì như thế là chú được biết rằng thi thoảng vẫn có người còn nhớ đến những Dư âm của chú...". Người nhạc sĩ tài hoa một thuở thong thả nói, nhẹ như một hơi thở.

Tôi cất lời khe khẽ một đoạn Dư âm: "Ðêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ..." giữa tiếng xèo xèo cộng hưởng của muôn vàn thanh âm trong con hẻm ồn ã. Nhạc sĩ khép mắt lại trong một thoáng rồi hít nhẹ một hơi như muốn thu lại hết những cảm giác lúc này đang có quanh không gian nơi đây vào tận sâu đáy lòng. Ông cười buồn: "Chú sống được đến bây giờ là nhờ những dư âm đó đấy". Ông vẫn ôm đàn ngồi một mình chẳng diễn tấu và cũng không hát, ông để những thanh âm xưa cũ vọng lại trong tâm trí.

Tôi rất hiểu khi nghe ông kể lại chuyện những bóng hình cũ bằng một cảm giác xúc động khôn nguôi, giờ thì người đã rời xa dương thế, người thì chính bản thân nhạc sĩ cũng không thể biết được họ đang ở phương trời nào. Còn ông giữ lại và ấp ủ cho mình những khoảnh khắc đẹp nhất, để thấy cuộc sống còn muôn vàn ý nghĩa và sự yêu thương. Cho dù khi trở lại với những gì đang hiện hữu xung quanh mình, người nhạc sĩ tài hoa ấy đã nhiều lần phải siết chặt hai bàn tay lại để tự an ủi bản thân khi đối diện với nỗi cô đơn trong thực tại.

Nhưng ông vẫn luôn cảm ơn tình yêu đã cho ông cảm xúc chân thực nhất để dệt nên những giai điệu đẹp dành tặng cuộc sống này. Tự nhận mình là người nhút nhát khi muốn bày tỏ tình cảm với một ai đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý luôn tâm niệm tình yêu khó đến và cũng thật khó nắm bắt, nhưng khi điều đó thật sự tồn tại trong trái tim mỗi người thì nó sẽ ở lại đó mãi mãi. Cho dù tình yêu không thành, không đơm hoa kết trái, không có nhiều thời khắc hạnh phúc nhưng cảm xúc đấy giữ ông ở lại trong thế giới riêng cảm của bản thân. "Chỉ mình biết mình đang hạnh phúc, chỉ mình biết mình đang khổ đau, âu cũng là lẽ thường tình của đời sống" - ông chậm rãi nói từng lời như một sự tự vấn với bản thân mình.

Giá mà sống trọn trăm năm...

Giờ sống một mình khi đã qua phần lớn con dốc cuộc đời, ông nhất định không chịu đến những trung tâm tình thương để sống và nhận sự bảo trợ cộng đồng từ xã hội. Ông bảo, vậy sẽ càng đau khổ hơn khi chứng kiến những nỗi cô đơn giống như mình. "Người với người sống để yêu nhau" thế nhưng khi cảm nhận được nỗi đau của nhau mà bất lực thì đó là một điều mà trái tim đa cảm của người nhạc sĩ sẽ không thể chịu đựng nổi. Tôi gặng hỏi tế nhị khá nhiều lần, mãi rồi ông mới cho biết mình đang sống bằng lương hưu, phụ cấp hoạt động trước cách mạng, rồi tiền tác quyền chừng hơn 1 triệu/tháng, tất cả là hơn 4 triệu đồng mỗi tháng không đủ để ông sinh hoạt tằn tiện thuốc men, chưa kể trả lương đỡ đần việc nhà cho cô cháu gái của người vợ đã khuất cũng mất gần hết số tiền ấy rồi. Hai cô con gái thì một người sinh sống ở Hà Nội, cô út ở Sài Gòn thì cũng gần đây nhưng chính nhạc sĩ không muốn về sống cùng vì biết hoàn cảnh của các con cũng khó khăn. Nhạc sĩ cho biết thêm thỉnh thoảng có những thính giả yêu mến tác phẩm của ông tìm đến và giúp đỡ ít nhiều, điều này khiến ông có thêm niềm vui và sự tự tin rằng con người và tác phẩm của mình vẫn chưa hoàn toàn bị thế gian này quên lãng.

"Ðôi khi chợt nhận ra mình nợ cuộc sống quá nhiều mà chẳng biết trang trải từ đâu" - nhạc sĩ cười buồn và thoáng trầm mặc trong dòng suy tưởng. Thật lòng tôi không thể cảm nhận được hết điều ông vừa nói và cũng không sao cất lời để có thể tiếp tục gợi chuyện. Khoảng lặng ấy kéo dài khá lâu trong ánh nắng buổi xế chiều. Không gian căn nhà nhỏ dường như thu mình lại trong sự ồn ã của những tiếng động xung quanh, xe cộ, hàng quán, trẻ nhỏ... Có lẽ những âm vang đó đang chất đầy trong tâm trí người nhạc sĩ hoặc ngược lại ông đang tạm lánh xa thực tại. Rồi ông lấy tập nhạc Những dư âm còn lại... đề tặng tôi vài dòng lưu bút, nét chữ khỏe khoắn bay bổng được thể hiện từ một bàn tay nay đã run run...

Nắm chặt tay ông để nói lời từ biệt, lại như lúc đón tôi, ông mỉm cười, khóe miệng rung rung: "Giá mà chú có một gia đình trọn vẹn thì thể nào chú cũng sống mười năm nữa cho tròn 100 tuổi...". Tôi lặng đi, rồi vội vã tìm lời an ủi, cũng chẳng ngoài những lời sáo rỗng quen thuộc...

Tôi với tư cách là một ca sĩ đã từng hát nhạc của ông, một thính giả đã từng yêu mến những tác phẩm của ông cảm thấy xấu hổ và biết ông rất cần một tấm lòng lúc này, một tấm lòng tri ân người nhạc sĩ tài hoa đã trọn đời cống hiến cho âm nhạc và cuộc sống này.

Ca sĩ ÁNH TUYẾT

Ghét ai thì nói thẳng mà thương ai thì chẳng dám nói

Ngẫm lại những gì xảy đến với mình trong suốt chặng đường đời, ông mới nhận ra rằng có lẽ cá tính ấy của mình đã ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống, như người ta vẫn hay nói “tính cách quyết định số phận”. Điều này dẫn đến hệ lụy rằng có nhiều người không thích ông và có những người ông đã đánh mất cơ hội được gần gũi họ.

Sự cô đơn hôm nay của người nhạc sĩ lão thành có lẽ một phần cũng bởi do tính cách ấy đem lại. Thế nhưng nếu để nói về một chữ “tiếc” nào đó trong cuộc đời thì ông sẽ mỉm cười và lắc đầu. Sinh ra và lớn lên trong những thời điểm lịch sử đầy biến động của dân tộc, ông luôn tự hào là người con của Tổ quốc Việt Nam yêu thương được đóng góp tâm sức và song hành cùng với những biến chuyển vĩ đại của dân tộc.

Đó là lý do tại sao đời sống âm nhạc của chúng ta có những Vượt trùng dương, Mẹ yêu con, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre, Chim hót trên đồng đay, Bài ca năm tấn, Cô đi nuôi dạy trẻ... Những giai điệu đó một thời đã tạo dựng niềm tin và cảm hứng cho biết bao thế hệ vượt qua khó khăn hoàn thành những sứ mệnh lịch sử.

Lặng buồn với những dư âm

Hơn 90 tuổi đời, lão nhạc sĩ di chuyển một mình thật khó khăn trong căn nhà nhỏ. Ông dành thời gian để ngồi nhiều hơn bên song cửa mà đưa mắt quan sát cuộc sống đang diễn ra. Cái cảm giác như ông nói, "đôi lúc chỉ muốn một ai đó đi qua và cười với mình" cho thấy ông yêu cuộc sống này biết bao nhiêu (cho dù với những gì ông đã đóng góp và cống hiến cho đời sống này thì hiện tại cuộc sống của ông là một điều thật ngậm ngùi).






  

Hội ngộ lần đầu


Năm 1978, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng mời các nhạc sĩ về thăm để viết ca khúc cho tỉnh nhà. Tác phẩm Quảng Nam - Đà Nẵng đất nặng nghĩa tình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý khi đó đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng. Với tôi nữa, cuộc hội ngộ ấy càng là một dấu ấn đặc biệt. 



Đó là lần đầu tôi được gặp người kể chuyện trong mơ của ca khúc Dư âm bằng xương bằng thịt. 


Hình dung về ông khi đó với tôi là một người đàn ông thật thú vị bởi cách nói chuyện nhiệt huyết gần gũi nhưng rất hóm hỉnh và cuốn hút. 


Vậy mà những năm gần đây, dáng vẻ ông ngồi nhìn qua song cửa với ánh mắt dường như đã tắt bao niềm vui cứ khiến tôi day dứt, ám ảnh.


Theo Báo Tuổi Trẻ


Nghe bài Dư âm





























































1-10 of 24